Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận

Lĩnh vực đất đai 23/09/2020

Cử tri kiến nghị sửa đổi tại điểm d, khoản 2, Điều 106 Luật Đất đai 2013 do: Theo điểm c khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai đối với “Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng…”.

Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị sửa đổi tại điểm d, khoản 2, Điều 106 Luật Đất đai 2013 do: Theo điểm c khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai đối với “Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng…”. Tuy nhiên, tại điểm d, khoản 2, Điều 106 Luật Đất đai 2013 lại quy định “…trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai” (tức là không thu hồi Giấy chứng nhận đối với trường hợp này). Quy định này chưa rõ ràng, thiếu tính thống nhất, dễ gây ra nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau, đây cũng là nguyên của nhiều cuộc tranh chấp, khiếu nại kéo dài.

Điều 64 của Luật Đất đai quy định về thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai, trong đó, tại điểm c khoản 1 điều 64 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai đối với “Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền”. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đối với trường hợp thu hồi đất nêu trên không áp dụng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai mà thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai khi nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích trên Giấy chứng nhận đã cấp.

Tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai quy định Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp: Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng …trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai”. Quy định này để tránh bất ổn chính trị xã hội nhằm bảo vệ cho những trường hợp người nhận chuyển quyền không biết Giấy chứng nhận đã cấp là trái quy định của pháp luật và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận, là bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với pháp luật về dân sự (khoản 2 Điều 133 của Bộ Luật Dân sự năm 2015).

Để nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận, tại khoản 5 Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đã quy định việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra được thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai.