Cử tri thắc mắc, “đất ở” và “đất thổ cư” khác nhau như thế nào?

Lĩnh vực đất đai 20/09/2020

Cử tri phản ảnh, hiện nay, sau khi thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân thì hạn mức “đất ở” thấp hơn rất nhiều so với diện tích “đất thổ cư” được ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây. Cử tri thắc mắc, “đất ở” và “đất thổ cư” khác nhau như thế nào? Việc cấp lại hạn mức “đất ở” thấp hơn nhiều so với diện tích “đất thổ cư” đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, giải quyết và trả lời thắc mắc của người dân (cử tri thành phố Đà Nẵng)

Theo quy định về phân loại đất của pháp luật đất đai hiện hành thì không có loại đất thổ cư. Do đó, việc địa phương căn cứ pháp luật đất đai năm 2013 để thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận, xác định diện tích đất ở đối với các Giấy chứng nhận đã cấp có mục đích sử dụng là “đất thổ cư” là cần thiết nhằm bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật hiện hành đồng thời thống nhất trong công tác quản lý đất đai.

Việc xác định loại đất cụ thể theo phân loại đất hiện nay trên các Giấy chứng nhận đã cấp có thể hiện loại “đất thổ cư” cần căn cứ vào thời điểm cấp Giấy chứng nhận và quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy.

Theo quy định tại mục II của Quyết định số 339-VP/ĐKRĐ ngày 27/8/1977 của Tổng cục Thống kê ban hành Danh mục phiếu điều tra và biểu tổng hợp và bản giải thích hướng dẫn cách ghi chép tổng hợp kết quả điều tra đất thì “Cột 10 - Thổ cư: ghi những khu đất để xây cất nhà ở, nhà tắm, nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, đường đi lại, chuồng trại chăn nuôi gia đình”.

Theo quy định tại Quyết định số 56-ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành bản quy định về thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước thì loại đất khu vực thổ cư là đất xây dựng trong các khu dân cư thành thị và nông thôn, trừ thổ canh, ao hồ, đường đi lại trong thôn xóm đã đo đạc tách ra; bao gồm: đất ở và đất xây dựng các công trình phục vụ lợi ích toàn dân trong các lĩnh vực văn hóa, y tế giáo dục, thể dục thể thao, nghỉ mát, du lịch; các trụ sở cơ quan, đoàn thể, tôn giáo, những kho tàng, cơ sở nông lâm nghiệp như chuồng trại chăn nuôi, trạm sửa chữa...

Theo quy định tại Quyết định số 237/QĐ-LB ngày 03/8/1989 của Liên Tổng cục Quản lý ruộng đất và Tổng cục Thống kê thì loại “Đất khu vực thổ cư” trước đây đã được quy định tách thành các loại “Đất khu dân cư” (gồm Đất ở thành thị và Đất ở nông thôn) và “Đất chuyên dùng” (bao gồm Đất xây dựng, Đất đường giao thông, Đất thủy lợi...).

Theo quy định tại Quyết định số 499-QĐ/ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng cục Địa chính quy định mẫu sổ địa chính, sổ mục kê đất, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai thì loại đất với "mục đích để ở" có ký hiệu bằng chữ "T".

Theo quy định tại Quyết định số 719/1999/QĐ-ĐC ngày 30/12/1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính ban hành về việc ban hành ký hiệu bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500, 1:1000, 1:2000 và 1:5000 thì ký hiệu chữ "T" là đất ở.

Đề nghị cử tri liên hệ với cơ quan quản lý đất đai ở địa phương để căn cứ hồ sơ cụ thể, giấy tờ, sổ sách lưu trữ tại địa phương, quy định của pháp luật tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận để xác định cụ thể diện tích đất ở đã được cấp.