Cử tri tỉnh Quảng Nam phản ánh chưa quy định thống nhất về việc quyết định chủ trương đầu tư thực hiện dự án với kế hoạch sử dụng đất hàng năm

Lĩnh vực đất đai 27/08/2020

Cử tri phản ánh Luật Đất đai và Luật Đầu tư chưa quy định thống nhất về việc quyết định chủ trương đầu tư thực hiện dự án với kế hoạch sử dụng đất hàng năm.

 

Cử tri nêu, theo Khoản 6, Điều 33, Luật Đầu tư năm 2014 quy định: Trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư lập báo cáo thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để cấp Quyết định chủ trương đầu tư cho dự án. Báo cáo thẩm định gồm nhiều nội dung, trong đó có yêu cầu "Đánh giá căn cứ pháp lý về quyền sử dụng địa điểm đầu tư của nhà đầu tư. Trường hợp có đề xuất giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì thực hiện thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai”. Từ quy định như trên có thể hiểu là Thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh cấp Quyết định chủ trương đầu tư.

Tuy nhiên, theo Luật Đất đai thì việc thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện sau khi nhà đầu tư, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị thuê đất, giao đất hoặc xin chuyển mục đích sử dụng đất (tức là sau khi dự án được cấp Quyết định chủ trương đầu tư và hoàn thành các thủ tục về quy hoạch, bảo vệ môi trường - nếu có). Từ thực tế, cho thấy việc áp dụng pháp luật giữa các văn bản chưa được thống nhất, làm phát sinh thêm thủ tục, tăng thời gian giải quyết các thủ tục về đất đai. Vì vậy, để khắc phục vấn đề này, đề nghị xem xét áp dụng đồng thời các thủ tục về chấp thuận chủ trương đầu tư với việc xem xét thẩm tra nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để giúp cắt giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục hành chính do nhà đầu tư không phải tiến hành lần lượt từng thủ tục liên quan đến việc sử dụng đất như quy định hiện hành.

Về nội dung phản ánh này, Bộ TN&MT có ý kiến như sau: Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định:

4. Thời điểm thẩm định các điều kiện quy định tại Điều này được thực hiện đồng thời với việc thẩm định nhu cầu sử dụng đất của chủ đầu tư khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật hoặc chấp thuận đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thì thời điểm thẩm định được thực hiện trước khi tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất.

Tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định:

“2. Bổ sung các khoản 4, 5, 6 và 7 vào Điều 7 như sau:

4. Hồ sơ thẩm định nhu cầu sử dụng đất đồng thời với thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, gồm:

a) Đơn đề nghị thẩm định của người xin giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 03b ban hành kèm theo Thông tư này hoặc văn bản đề nghị thẩm định của cơ quan đăng ký đầu tư;  

b) Hồ sơ dự án đầu tư khi thực hiện quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

5. Hồ sơ thẩm định nhu cầu sử dụng đất đối với trường hợp xin giao đất, thuê đất mà không phải thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư, gồm:

a) Đơn đề nghị thẩm định của người xin giao đất, cho thuê đất theo Mẫu số 03b ban hành kèm theo Thông tư này hoặc văn bản đề nghị thẩm định của cơ quan đăng ký đầu tư;  

b) Hồ sơ dự án đầu tư khi thực hiện quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

6. Hồ sơ thẩm định nhu cầu sử dụng đất đối với trường hợp xin chuyển mục đích sử dụng đất mà không phải thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, gồm:

a) Đơn đề nghị thẩm định của người xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 03b ban hành kèm theo Thông tư này hoặc văn bản đề nghị thẩm định của cơ quan đăng ký đầu tư;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

c) Hồ sơ dự án đầu tư khi thực hiện quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

7. Hồ sơ thẩm định nhu cầu sử dụng đất đối với trường hợp xin chuyển mục đích sử dụng đất mà không lập dự án đầu tư gồm:

a) Đơn đề nghị thẩm định của người xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 03b ban hành kèm theo Thông tư này;  

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Như vậy, quy định hiện hành đã có quy định về việc liên thông thủ tục. Tuy nhiên, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu rà soát, ban hành hoặc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng đơn giản phù hợp với chủ trương về cải cách thủ tục hành chính.