Theo đó, các nội dung kiến nghị vào 04 nhóm vấn đề:
Thứ nhất, bất cập giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp về thẩm quyền quyết định chủ trương và hạn mức chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Điều 58 Luật Đất đai và Điều 20 Luật Lâm nghiệp. Điều 58 Luật Đất đai. Điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư.
Trong đó:
Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 ha đất trồng lúa trở lên; từ 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên;
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 héc ta đất trồng lúa; dưới 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Tại Luật Lâm nghiệp Về thẩm quyền cho phép và hạn mức chuyển mục đích sử dụng rừng và chuyển mục đích sử dụng đất rừng sang mục đích khác của Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng nhân dân tỉnh giữa hai luật không đồng nhất:
“Điều 20. Luật Lâm nghiệp thì thẩm quyền quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác:
Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng dưới 50 ha; rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới từ 20 ha đến dưới 50 ha; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay và rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển từ 20 ha đến dưới 500 ha; rừng sản xuất từ 50 ha đến dưới 1.000 ha.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay và rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển dưới 20 ha; rừng sản xuất dưới 50 ha; rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư”.
Đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật đất đai để thống nhất với luật Lâm nghiệp về thẩm quyền và hạn mức quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng với chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất của Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Thứ hai, bất cập giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp về đối tượng giao rừng: Quy định tại Điều 135, 136, 137 Luật Đất đai và Điều 16 Luật Lâm nghiệp. Điều 135, 136, 137 Luật Đất đai:
Nhà nước giao đất rừng đặc dụng cho tổ chức quản lý; đất rừng phòng hộ cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong khu vực rừng phòng hộ mà chưa có tổ chức quản lý. Nhà nước giao đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên cho tổ chức quản lý rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Không đồng nhất với quy định về giao rừng tại Điều 16 Luật Lâm nghiệp:
“Điều 16 Luật Lâm nghiệp: Nhà nước giao rừng đặc dụng cho tổ chức, cộng đồng dân cư đối với khu rừng tín ngưỡng mà họ đang quản lý và sử dụng theo truyền thống; giao rừng phòng hộ cho tổ chức, cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cư trú hợp pháp trên địa bàn cấp xã nơi có rừng phòng hộ đầu nguồn. Nhà nước giao rừng sản xuất không thu tiền sử dụng rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cư trú hợp pháp trên địa bàn cấp xã nơi có diện tích rừng”.
Đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai để đồng nhất quy định về giao đất, thuê đất với giao rừng, cho thuê từng loại rừng.
Thứ ba, bất cập giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp về cho thuê rừng sản xuất: Quy định tại Điều 135 Luật Đất đai và Điều 17 Luật Lâm nghiệp. Điểm b, c, khoản 2, Điều 135. Đất rừng sản xuất “Nhà nước giao đất, cho thuê đất rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định sau đây: b) Cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư trồng rừng; c) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất rừng sản xuất theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì được sử dụng diện tích đất chưa có rừng để trồng rừng hoặc trồng cây lâu năm”.
Không đồng nhất trong quy định cho thuê rừng sản xuất: Điều 17 Luật Lâm nghiệp: Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền thuê rừng một lần hoặc hằng năm để sản xuất lâm nghiệp; sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí.
Đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai để đồng nhất quy định về giao đất, thuê đất với giao rừng, cho thuê rừng.
Về 03 nhóm kiến nghị nêu trê, tại Điều 1 Luật Đất đai năm 2013 quy định phạm vi điều chỉnh về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại Điều 1 Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định phạm vi điều chỉnh về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản.
Do phạm điều chỉnh tại Luật Lâm nghiệp và Luật Đất đai khác nhau, theo đó Luật Đất đai quy định về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất rừng, còn Luật Lâm nghiệp quy định về cho thuê rừng là phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành, không có sự chồng chéo, mâu thuẫn.
Thứ tư, bất cập giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp về khái niệm và việc sử dụng đất rừng tín ngưỡng: Quy định tại Điều 160 Luật Đất đai và Khoản 8, Điều 2 Luật Lâm nghiệp. Cụ thể: Điều 160. Đất tín ngưỡng
Đất tín ngưỡng bao gồm đất có công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
Việc sử dụng đất tín ngưỡng phải đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Việc xây dựng, mở rộng các công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ của cộng đồng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Khái niệm và quy định sử dụng đất tín ngưỡng liên quan đến rừng tín ngưỡng chưa đầy đủ và thống nhất:
Khoản 8, Điều 2 Luật Lâm nghiệp: Giải thích từ ngữ: “Rừng tín ngưỡng là rừng gắn với niềm tin, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng”. Đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai để đồng nhất với Luật Lâm nghiệp khái niệm về đất và rừng tín ngưỡng; qua đó mới có sự thống nhất về giao đất, rừng và sử dụng rừng trên đất tín ngưỡng theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 16 và điểm c, khoản 2, Điều 52 Luật Lâm nghiệp. (Cử tri tỉnh Quảng Nam)
Về bất cập giữa Luật đất đai và Luật lâm nghiệp về khái niệm và việc sử dụng đất rừng tín ngưỡng, theo quy định tại Điều 160 Luật Đất đai đất tín ngưỡng bao gồm đất có công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
Theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Luật Lâm nghiệp rừng tín ngưỡng là rừng gắn với niềm tin, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng.
Theo đó, Luật Đất đai quy định đất tín ngưỡng, còn Luật Lâm nghiệp quy định rừng tín ngưỡng là hai phạm vi khác nhau, do đó khái niệm cũng khác nhau.
Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề mà cử tri phản ánh Luật Đất đai năm 2013 đã có quy định tại điểm a khoản 3 Điều 131 như sau: “a) Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc;”, trên thực tế mốt số địa phương cũng đã thực hiện giao đất rừng cho cộng đồng dân cư để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc.