Về nội dung kiến nghị này, Bộ TN&MT có ý kiến như sau: Điều 174, Điều 179 và Điều 183 của Luật Đất đai quy định về quyền “góp vốn bằng quyền sử dụng đất” của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân và của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất.
Khoản 1 Điều 35 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất,...
Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh theo hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật Đất đai; Điều 16 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại khoản 50 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và Điều 4 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Căn cứ quy định của pháp luật đất đai hiện hành, trong thời hạn góp vốn, quyền sử dụng đất của người góp vốn bằng quyền sử dụng đất được chuyển giao sang cho người nhận góp vốn và khoản 52 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ quy định việc xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là thỏa thuận giữa người sử dụng đất và bên nhận góp vốn. Theo đó, quy định của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP nêu trên xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên theo quy định của pháp luật về dân sự.