Cử tri tỉnh Tây Ninh đề nghị Chính phủ có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất

Lĩnh vực đất đai 26/08/2020

Cử tri đề nghị Chính phủ có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp dự án sử dụng đất thương mại dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp đầu tư trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có phải đấu giá quyền sử dụng đất.

Cụ thể, cử tri nêu, theo quy định tại khoản 3 Điều 19 của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, các dự án đầu tư vào địa bàn ưu đãi đầu tư (địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) được miễn tiền thuê đất có thời hạn. Theo điểm b khoản 2 Điều 118 của Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại Điều 110 của Luật này thuộc trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Nhưng theo điểm d khoản 1 Điều 118 của Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp sử dụng đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất. Vậy các dự án sử dụng đất thương mại dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp đầu tư trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có phải đấu giá quyền sử dụng đất không? Đề nghị Chính phủ có hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp này.

Về vấn đề cử tri phản ánh liên quan đến việc đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại địa bàn có có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Để giải quyết khó khăn, vướng mắc mà cử tri phản ánh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Hiện nay, Nghị định đang được Chính phủ xem xét ban hành.

Bên cạnh đó, cử tri cũng phản ánh, theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật Đất đai năm 2013, doanh nghiệp đầu tư dự án nhưng chưa có đất để thực hiện dự án (các dự án không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất) thì doanh nghiệp sẽ thực hiện tự thỏa thuận với các chủ đất thông qua các hình thức nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2014 chỉ công nhận việc chuyển đổi từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác của cùng một dự án thông qua hình thức chuyển nhượng dự án. Đồng thời, trường hợp sau khi doanh nghiệp góp vốn hủy góp vốn thì phương án xử lý đối dự án này như thế nào cũng chưa được quy định. Đề nghị Chính phủ hướng dẫn chi tiết đối với trường hợp này. 

Về nội dung kiến nghị này, Bộ TN&MT có ý kiến như sau: Điều 174, Điều 179 và Điều 183 của Luật Đất đai quy định về quyền “góp vốn bằng quyền sử dụng đất” của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân và của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất.

Khoản 1 Điều 35 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất,...

Trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh theo hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật Đất đai; Điều 16 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, khoản 15 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại khoản 50 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và Điều 4 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Căn cứ quy định của pháp luật đất đai hiện hành, trong thời hạn góp vốn, quyền sử dụng đất của người góp vốn bằng quyền sử dụng đất được chuyển giao sang cho người nhận góp vốn và khoản 52 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ quy định việc xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là thỏa thuận giữa người sử dụng đất và bên nhận góp vốn. Theo đó, quy định của Nghị định số 01/2017/NĐ-CP nêu trên xử lý quyền sử dụng đất khi chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên theo quy định của pháp luật về dân sự.