Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Lào Cai gửi đến sau kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV

Lĩnh vực đất đai 17/08/2020

Theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Tại Điều 3, khoản 3, điểm b, c trong Nghị định không nêu rõ quy định áp dụng đối với cả khu tái định cư gồm nhiều thửa đất hay đối với từng thửa đất, nên gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Hiện nay, các hộ giao đất tái định cư tại dự án nào thì UBND tỉnh có quyết định riêng cho dự án đó dẫn đến chưa đồng bộ trong cả tuyến đường giao đất tái định cư, vì có dự án giao trước, có dự án giao sau. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn cụ thể.

Bộ Tài nguyên và Môi trường kính gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai nội dung trả lời các kiến nghị của cử tri tỉnh Lào Cai như sau: 

Theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Tại Điều 3, khoản 3, điểm b, c trong Nghị định không nêu rõ quy định áp dụng đối với cả khu tái định cư gồm nhiều thửa đất hay đối với từng thửa đất, nên gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Hiện nay, các hộ giao đất tái định cư tại dự án nào thì UBND tỉnh có quyết định riêng cho dự án đó dẫn đến chưa đồng bộ trong cả tuyến đường giao đất Tái định cư, vì có dự án giao trước, có dự án giao sau. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn cụ thể

Vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có quy định về các trường hợp để áp dụng phương pháp định giá đất gồm: (1) phương pháp so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập, thặng dư; hoặc (2) phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. 

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 69, khoản 1 và khoản 3 Điều 86 Luật Đất đai năm 2013 thì giá của thửa đất tái định cư là giá đất cụ thể tại thời điểm quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và được thể hiện trong Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Theo Quyết định số 634/QĐ-BTNMT ngày 29/3/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Quyết định số 2555/QĐ-BTNMT ngày 20/10/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc công bố bộ thủ tục hành chính mới ban hành; được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có quy định trình tự thủ tục công nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất ổn định được quy định tại khoản 1, 2 Điều 101 Luật Đất đai, các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ theo Điều 100 Luật đất đai nhưng đã sử dụng ổn định từ ngày 01/7/2004 đến ngày 01/7/2014 và không vi hạm pháp luật đất đai, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không tranh chấp, phù hợp quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, chưa có thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất liên tục vào một mục đích nhất định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014 chưa có quyết định giao đất nhưng đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ sung thủ tục hành chính đối với các trường hợp sử dụng đất sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2014 và các trường hợp sử dụng đất từ ngày 01/7/2004 đến ngày 01/7/2014

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì nhà nước công nhận quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu cho người đang sử dụng đất. Các trường hợp cử tri nêu thuộc trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận lần đầu. Hiện nay, Quyết định số 2555/QĐ-BTNMT ngày 25/10/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc công bố bộ thủ tục hành chính đã có thủ tục: “Đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu” trong “Mục III. Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện” để giải quyết vướng mắc mà cử tri nêu.

Theo thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tại điểm b khoản 2 Điều 3 thì căn cứ để xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là: Không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội. Tuy nhiên Tại khoản 30 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó. Như vậy, quy định giữa Luật Đất đai năm 2013 và Thông tư 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa đồng nhất về cách hiểu để xác định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên khó khăn cho việc xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, do vậy cần quy định rõ hơn. Đề nghị xem xét điều chỉnh cho phù hợp

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Khoản 30 Điều 3 Luật Đất đai đã quy định về “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó”

Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ và Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định cụ thể việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và việc xác nhận nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp để làm cơ sở xác định “hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp”. Cụ thể: tại khoản 2 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT đã quy định các căn cứ để xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TTBTNMT quy định các căn cứ để xác định hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Như vậy, quy định giữa khoản 30 Điều Luật Đất đai năm 2013 và Thông tư 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường là thống nhất.

Do tập quán sinh sống của một bộ phận dân cư thuộc đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Lào Cai trước đây tại một số xã (nay đã nâng cấp thành phường) bà con thường làm nhà trên đất của bố mẹ (bao gồm cả đất nông nghiệp). Tuy nhiên, hiện nay quy định về việc bồi thường này hiện còn chung chung, chưa cụ thể nên gây ra bức xúc cho nhân dân. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn về bồi thường và giao đất ở tái định cư cho các hộ này có được áp dụng theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP hay không?

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã quy định: “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”.

Quy định nêu trên là áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở mà phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi. 

Do nội dung cử tri nêu chưa rõ về người thu hồi đất có được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất hay không hoặc có còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi hay không để làm căn cứ Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời cụ thể. Vì vậy, đề nghị cử tri liên hệ với cơ quan tài nguyên và môi trường tại địa phương nơi có đất để được hướng dẫn, giải đáp cụ thể. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc cơ quan tài nguyên và môi trường địa phương gửi văn bản về Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn.

Sau khi đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất và đã được phê duyệt trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của UBND tỉnh. Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục 4 tách thửa để chuyển mục đích sử dụng đất lại không thực hiện được do trên đất đã có nhà ở, việc dựng nhà đã được thực hiện từ nhiều năm trước. Căn cứ khoản 3 Điều 12 Luật Đất đai 2013, thì hộ dân trên đang sử dụng đất không đúng mục đích. Vì vậy không thực hiện việc tách thửa cho nhân dân gây khó khăn trong việc chuyển mục đích sử dụng đất. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu tháo gỡ.

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Về việc chuyển mục đích sử dụng đất: Theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật Đất đai thì một trong những hành vi nghiêm cấm là sử dụng đất không đúng mục đích. Do đó, trường hợp hộ dân không sử dụng đúng mục đích thì cơ quan có thẩm quyền tại địa phương phải tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp vi phạm quy định về chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01/7/2014 thì đề nghị căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để xử lý, công nhận quyền sử dụng đất cho hộ dân.

Về việc tách thửa đất: Thủ tục tách thửa đất thực hiện theo quy định tại Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Để quản lý chặt chẽ việc tách thửa đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu xây dựng và trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai, trong đó có bổ sung một điều mới quy định về điều kiện tách thửa đất.

Hiện nay có rất nhiều hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp từ năm 1997, 1998, nhiều hộ đã hết thời hạn sử dụng đất. Một số vướng mắc khi xin gia hạn sử dụng đất, đó là khi hết hạn sử dụng không thực hiện được các giao dịch chuyển nhượng, cho tặng... Trường hợp chủ sử dụng đất chết trước khi hết hạn sử dụng đất. Vì vậy, khi thời hạn sử dụng đất ghi trên GCNQSD đất hết hạn hộ gia đình không thực hiện được việc phân chia tài sản thừa kế; Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất sai mục đích ghi trên GCNQSD đất đã cấp như cấp đất rừng nhưng lại trồng cây lâu năm, cây hàng năm và hiện nay hộ gia đình vẫn có nhu cầu được tiếp tục sử dụng đất thì không biết làm thủ tục thế nào? Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét ban hành văn bản hướng dẫn để thực hiện

Về vấn đề cử tri nêu, trong quá trình xây dựng Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nhận thấy các vướng mắc như phản ánh. Vì vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu để Chính phủ trình Quốc hội ban hành quy định hoặc để Chính phủ ban hành quy định xử lý vấn đề này.

Theo đó, tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai đã quy định người sử dụng đất 1 Tờ trình số 101/TTr-BTNMT ngày 27 tháng 12 năm 2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi: (1) Có Giấy chứng nhận, (2) Đất không có tranh chấp; (3) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (4) Trong thời hạn sử dụng đất.

Tại khoản 2 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã quy định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao, công nhận, nhận chuyển quyền sử dụng đất, khi hết thời hạn sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 và khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất. 

Do đó, trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp mà hết thời hạn sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất và tiếp tục được thực hiện các quyền. Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu xác nhận lại thời hạn sử dụng đất thì thực hiện thủ tục xác nhận lại thời hạn sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. 

Như vậy, pháp luật đất đai năm 2013 đã có quy định xử lý các vấn đề vướng mắc mà cử tri nêu. Bộ Tài nguyên và Môi trường thông tin đến cử tri được biết. 

Trường hợp cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã chết và để thừa kế cho cá nhân khác: Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, đối với thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng người được cấp Giấy chứng nhận đã chết trước khi hết hạn sử dụng đất thì người nhận thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật tại thời điểm người để thừa kế chết; người nhận thừa kế thực hiện đồng thời 02 thủ tục là khai nhận di sản thừa kế và thủ tục gia hạn sử dụng đất hoặc xác nhận lại thời hạn sử dụng đất theo Điều 74 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. 

Về vấn đề sử dụng sai mục đích trên Giấy chứng nhận: Do câu hỏi nêu “hộ gia đình sử dụng đất sai mục đích ghi trên GCNQSD đất đã cấp” nhưng không rõ Giấy chứng nhận cấp không đúng mục đích hay Giấy chứng nhận được cấp đúng mục đích và người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng sang loại đất khác nên Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời theo hai trường hợp như sau: (i) Đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận đúng mục đích sử dụng là đất rừng nhưng hiện trạng sử dụng vào mục đích đất trồng cây lâu năm, cây hàng năm: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai thì việc chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp thuộc trường hợp phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, nếu Giấy chứng nhận đã cấp đúng loại đất là đất rừng nhưng người sử dụng đất tự ý chuyển mục đích sử dụng đất mà không xin phép cơ quan có thẩm quyền thì cần xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; (ii) Đối với trường hợp thể hiện mục đích sử dụng đất trên Giấy chứng nhận sai sót so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai thì thực hiện việc đính chính Giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai, Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, khoản 3 Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT; đối với trường hợp Giấy chứng nhận được cấp không đúng mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì thực hiện việc thu hồi, cấp lại Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất theo quy định tại các khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai, Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và khoản 4 Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT. 

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường về nội dung mà cử tri tỉnh Lào Cai quan tâm. Trân trọng kính gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai để thông tin tới cử tri được biết. 

Trân trọng cảm ơn./.