Về nội dung này, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin trả lời như sau:
Mặt khác, khoản 1 Điều 19 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định: Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội, già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ việc, đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải.Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Hòa giải cơ sở “Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật…” và giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định phạm vi hòa giải ở cơ sở bao gồm: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyển sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất. Như vậy, quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP nêu trên thì phạm vi hòa giải ở cơ sở bao gồm cả tranh chấp từ quyền sử dụng đất.
Tại điểm b khoản 1 Điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: “Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”.
Như vậy, các thành phần trong Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai phù hợp với các thành phần như quy định trong Luật Hòa giải ở cơ sở và Nghị định số 15/2014/NĐ-CP. Với đặc thù lĩnh vực đất đai là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nên pháp luật đất đai quy định rõ về hội đồng cũng như trình tự, thủ tục thực hiện hòa giải Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở đã quy định cụ thể về nội dung chi, mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở. Tại khoản 19 Điều 4 Thông tư liên tịch này quy định thù lao cho hòa giải viên (đối với các hòa giải viên trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải) tối đa 200.000 đồng/vụ, việc/tổ hòa giải. Tuy nhiên, đối với những người khác tham gia hòa giải (trong đó có cả hòa giải tranh chấp đất đai) thì chưa có cơ chế để hỗ trợ, bồi dưỡng cho các đối tượng này
Bộ Tài nguyên và Môi trường thấy rằng, việc quy định trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai đã được quy định cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai. Việc quy định chế độ hỗ trợ, bồi dưỡng cho các hộ dân khi tham gia Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai là cần thiết, tuy nhiên kinh phí này liên quan đến ngân sách nhà nước.
Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26/7/2017 của Chính phủ thì Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tài chính - ngân sách (bao gồm: Ngân sách nhà nước; thuế; phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước…). Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị Bộ Tài chính hướng dẫn nội dung này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị trường hợp Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai có mời hòa giải viên tham gia hòa giải, thì hòa giải viên của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai áp dụng chế độ của hòa giải viên theo quy định tại Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp. Quy định như vậy để bảo đảm thống nhất về nội dung chi, mức chi với các các vụ hòa giải khác theo Nghị định số 15/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Bộ Tài chính trong quá trình hoàn thiện nội dung này.