Theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai: “Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 được cấpGiấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa cũng được cấpGiấy chứng nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP'’. Đề nghị quy định bổ sung đối với trường hợp xác định diện tích đất ở đối với thửađất còn lại sau khi đã tách thửa mà không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoán 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP nhưng thửa đất tách ra là thửa đấtở có vườn, ao sử dụng trước 18 tháng 12 năm 1980 được cấp GCN theo quy định tại Khoản 3, Điều 24, Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa cũng được cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Khoản 3, Điều 24, Nghị định 43/2014/NĐ-CP
Pháp luật đất đai đã có quy định cụ thể về việc cấpGiấy chứng nhận trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất tại Điều 101 Luật đất đai và Điều 20, Điều 22 và Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
Về kiến nghị của cử tri giải quyết việc cấpGiấy chứng nhận đối với thửa đất không có Giấy tờ về quyền sử dụng đất như trường hợp có Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (đất sử dụng trước ngày 18/12/1980 và có giấy tờ về quyền sử dụng đất) sẽ dẫn đến sự mất công bằng đối với các trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà đã được cấp Giấy chứng nhận từ khi thực hiện Luật đất đai năm2013 đến nay. Nếu sửa đổi pháp luật theo hướng các trường hợp sử dụng đất không có Giấy tờ về quyền sử dụng đất khi cấpGiấy chứng nhận, được xác định hạn mức đất ở như trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất sẽ dẫn đến sự so bì của người được cấp Giấy chứng nhận trước đó (do trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì chủ yếu được xác định hạn mức công nhận đất ở (theo hạn mức giao đất ở tại địa phương) nhỏ hơn trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất (được xác định diện tích đất ở theo hạn mức công nhận đất ở tại địa phương) nếu thời điểm sử dụng đất là như nhau).
Đặc biệt trong trường hợp Nhà nước đẫ thu hồi đất và đã thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình, dự án trước đó thì các trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất được bồi thường theo diện tích đất ở xác định theo hạn mức giao đất ở tại địa phương. Nay nếu sửa đổi pháp luật để trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi đất phải bồi thường đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo hạn mức công nhận đất ở tại địa phương sẽ dẫn đến sự khiếu kiện, làm phức tạp tình hình ở địa phương.
Với những tác động như đã nêu ở trên thì không nên sửa đổi pháp luật theo hướng quy định bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận đối với thửa đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.