Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa gửi đến sau kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV

Lĩnh vực địa chất, khoáng sản 19/08/2020

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được ý kiến của cử tri tỉnh Thanh Hóa gửi đến sau kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 1680/BTNMT-PC ngày 31/3/2020 gửi Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội trả lời về nội dung cử tri quan tâm.

Bộ Tài nguyên và Môi trường kính gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa nội dung trả lời các kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa như sau:

Khoản 1 Điều 53 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về đất sử dụng cho khu kinh tế quy định: “Ban Quản lý khu kinh tế phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 151 Luật Đất đai năm 2013: “Ban Quản lý Khu kinh tế có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với diện tích đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi để giao cho mình trước khi giao lại đất, cho thuê đất”. Như vậy, việc quy định trách nhiệm thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng của Ban Quản lý Khu kinh tế là chưa thống nhất. Đề nghị chỉnh sửa thống nhất giữa Luật và Nghị định hướng dẫn

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Tại khoản 8 Điều 151 Luật Đất đai năm 2013 đã giao trách nhiệm cho Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Do đó, tại khoản 1 Điều 53 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đã quy định trách nhiệm quản lý đất đai của Ban Quản lý khu kinh tế, trong đó có việc phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là phù hợp, bởi vì: trách nhiệm chính trong việc thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng trong khu kinh tế vẫn thuộc về Ban Quản lý khu kinh tế. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chỉ thực hiện nhiệm vụ phối hợp khi được Ban Quản lý khu kinh tế yêu cầu.

Điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai quy định, các trường hợp thu hồi đất do vi phạm Luật Đất đai không được bồi thường về tài sản trên đất, dẫn đến nhiều trường hợp cố tình chống đối, không thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền phải tổ chức cưỡng chế, ảnh hưởng đến tình hình, an ninh trật tự tại địa phương. Các doanh nghiệp bị thu hồi đất cũng không mong muốn dự án chậm thực hiện hoặc không đầu tư vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như thị trường thay đổi, chính sách tín dụng biến động, tác động đến việc đầu tư và hoạt động của dự án (việc thu hồi đất tại khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 trái với quy định cam kết bảo hộ tài sản của nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tại khoản 3 Điều 51 Hiến pháp 2013 và khoản 3 Điều 5 Luật Đầu tư 2014). Đề nghị xem xét, điều chỉnh cho phù hợp

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: Quy định về thu hồi đất do vi phạm mà không bồi thường tại điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 được thể chế từ Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Theo quy định tại Điều 53 của Hiếp pháp năm 2013 thì đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. 

Tại điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.” 

Quy định nhằm giải quyết tình trạng chủ đầu tư dự án có vi phạm về tiến độ sử dụng đất đã được nhà nước xem xét cho gia hạn nhưng vẫn cố tình không đưa đất vào sử dụng, gây lãng phí trong việc sử dụng đất đồng thời làm ảnh hưởng đến quyền tiếp cận đất đai của các tổ chức, cá nhân khác. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành tổng kết toàn diện việc tổ chức thi hành luật đất đai, trong đó có vấn đề cử tri quan tâm. 

Trên cơ sở kết quả tổng kết Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ đề xuất cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai cho phù hợp.

Điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai quy định “Đất trồng cây hàng năm không sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục” nhưng Luật không quy định đối với đất nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp khác. Đề nghị xem xét quy định cụ thể hơn cho tất cả các loại đất để làm căn cứ thanh tra, kiểm tra, kiến nghị thu hồi đất

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Quy định tại điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 được kế thừa từ Luật Đất đai năm 2003. Trong quá trình tổ chức thi hành Luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nhận được phản án của địa phương về vấn đề này. Tuy nhiên, việc xác định hành vi vi phạm của người được giao đất, cho thuê đất vào mục đích nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác trong 12 tháng không sử dụng liên tục là rất khó xác định chính xác để xử lý. 

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri và tiếp tục nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện pháp luật đất đai.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, căn cứ để được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cứng nhắc, khó thực hiện vì kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm, điều kiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất ngặt nghèo (quy định tại khoản 1, 2 Điều 46 Luật Đất đai năm 2013); bản đồ quy hoạch sử dụng đất lập có tỷ lệ nhỏ (1/50.000; 1/25.000…); kinh tế xã hội của nước ta theo hướng thị trường, luôn có biến động dẫn đến rất khó khăn khi thực hiện các thủ tục giao đất, cho thuê đất phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Đề nghị nghiên cứu, chỉnh sửa

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Theo quy định tại Điều 52 Luật Đất đai căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất là kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện; Điều 6 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch thì kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất (đã sửa đổi, bổ sung Điều 35 Luật Đất đai). 

Trường hợp đề xuất điều chỉnh thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 751/2019/UBTVQH14 ngày 16/8/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích một số điều của Luật Quy hoạch và Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch thì kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất (đã sửa đổi, bổ sung Điều 46 Luật Đất đai). Trường hợp cần thiết mà phải thay đổi về quy mô, địa điểm và số lượng dự án, công trình trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng không làm thay đổi về chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt theo quy định tại điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 7 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ (được bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017). 

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất có tỷ lệ 1:50.000 là tỷ lệ của bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; đối với bản đồ kế hoạch sử dụng đất cấp huyện sẽ có 02 loại bản đồ, gồm: bản đồ kế hoạch sử dụng đất cấp huyện tỷ lệ 1:10.000, 1:25.000 và bản vẽ vị trí, ranh giới, diện tích các công trình, dự án trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm được thể hiện trên nền bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã là đủ căn cứ để thực hiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. 

Để quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch, thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ (Tờ trình số 107/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019) dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết Luật Đất đai, trong đó có nội dung liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Điểm b khoản 4 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: Trong thời gian thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, chủ đầu tư được nộp hồ sơ xin giao đất, thuê đất không phải chờ đến khi hoàn thành việc giải phóng mặt bằng. Quy định này trái với quy định tại Điều 53 Luật Đất đai năm 2013 (việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng). Đề nghị điều chỉnh Nghị định cho phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Tại Điều 53 Luật Đất đai quy định: “Việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng”. Tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai quy định: “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày”. 

Tại điểm b khoản 4 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đã quy định về một số bước công việc chuẩn bị giao đất, cho thuê đất được thực hiện đồng thời với trình tự, thủ tục thu hồi đất theo quy định như sau: “Trong thời gian thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt thì chủ đầu tư được nộp hồ sơ xin giao đất, thuê đất mà không phải chờ đến khi hoàn thành việc giải phóng mặt bằng”. 

Căn cứ các quy định của pháp luật nêu trên, khi thực hiện dự án mà đất đang có người sử dụng thì Nhà nước phải ban hành quyết định thu hồi đất và thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật. Nhằm đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất thực hiện các dự án đầu tư thì tại điểm b khoản 4 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định việc nộp hồ sơ xin giao đất, thuê đất (đây chưa phải ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất) mà không phải chờ đến khi hoàn thành việc giải phóng mặt bằng. Như vậy, nội dung quy định tại điểm b khoản 4 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nhằm cải cách thủ tục hành chính và phù hợp với quy định của Luật Đất đai. Do vậy, nội dung quy định tại điểm b khoản 4 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP phù hợp với quy định tại Điều 53 Luật Đất đai năm 2013.

Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu đều có quy định hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất; tuy nhiên, pháp luật đất đai hiện hành không quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất thông qua hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật đầu tư, luật đấu thầu. Đề nghị quy định trình tự, thủ tục để giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp này

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Ngày 20/8/2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Báo cáo số 79/BCBTNMT báo cáo Thủ tướng Chính phủ về một số vướng mắc liên quan đến thủ tục đất đai đối với trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

Ngày 28/02/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư (có hiệu lực từ ngày 20/4/2020 và thay thế Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/3/2015), trong đó đã quy định về trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất thông qua hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất được thực hiện theo trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất theo khoản 3 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Hiện nay, các dự án thuộc trường hợp phải nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất, người đang sử dụng đất yêu cầu phải nhận chuyển nhượng hết diện tích đất của thửa đất đang sử dụng; trong khi ranh giới khu đất thực hiện dự án (theo quy hoạch được phê duyệt) không trùng với ranh giới thửa đất nhận chuyển nhượng, nhiều thửa đất chỉ có một phần nằm trong ranh giới dự án; Nhà nước chỉ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất đối với diện tích đất trong phạm vi ranh giới khu đất thực hiện dự án (theo quy hoạch được phê duyệt). Tuy nhiên, phần diện tích đất chủ đầu tư đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngoài phạm vi thực hiện dự án chưa có quy định việc quản lý sử dụng, gây khó khăn, bất cập. Đề nghị xem xét quy định xử lý đối với các trường hợp này để làm căn cứ thực hiện, đảm bảo quyền lợi các các chủ đầu tư thực hiện dự án

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật Đất đai, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, đối với dự án sử dụng đất thông qua hình thức nhận chuyển nhượng và chuyển mục đích sử dụng đất thì phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi thực hiện. Do đó, để giải quyết các vấn đề phát sinh mà cử tri nêu, Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cần rà soát cụ thể hiện trạng đất đai trước khi phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và chấp thuận chủ trương cho nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư. Trường hợp cần thiết thì theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch, ranh giới dự án cho phù hợp.

Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sửa Luật Đất đai theo hướng đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài, chủ đầu tư được nhận quyền sử dụng đất như đối với các dự án có chủ đầu tư là doanh nghiệp trong nước

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Sử dụng đất có yếu tố nước ngoài là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến vấn đề quốc phòng, an ninh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Việc mở rộng, cho phép nhà đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần 6 phải được nghiên cứu, cân nhắc thấu đáo và trình xin ý kiến chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương. 

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận ý kiến của cử tri để tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, tổng kết toàn diện, sâu sắc và đề xuất hoàn thiện trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai trong thời gian tới.

Theo quy định tại Điều 58 Luật Đất đai năm 2013, đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa dưới 10 ha, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng dưới 20 ha để thực hiện dự án thuộc trường hợp phải có Nghị quyết Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Tuy nhiên, pháp luật đất đai không quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ báo cáo UBND tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét chấp thuận. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013 thì đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10 héc ta đất trồng lúa trở lên; từ 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên hoặc Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 héc ta đất trồng lúa; dưới 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. 

Về vấn đề cử tri nêu liên quan đến trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang thực hiện các dự án đã được quy định tại khoản 2 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2014, trên cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 quy định về hồ sơ để hướng dẫn các địa phương, tiếp tục được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 24/2019/TTBTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đối với việc quy định về hồ sơ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét chấp thuận việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận để đề xuất hoàn thiện pháp luật về đất đai.

Khoản 26 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ quy định: Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư không phải là dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê. Tuy nhiên, chưa quy định rõ thời điểm thẩm định các điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các dự án đã được giao đất, cho thuê đất. Đề nghị quy định rõ thời điểm thẩm định các điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các dự án đã được giao đất, cho thuê đất

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:

Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư không phải là dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê phải tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về kinh doanh bất động sản và phải bảo đảm các điều kiện sau đây: (i) Có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật đất đai; (ii) Chủ đầu tư phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai của dự án gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thuế, phí, lệ phí liên quan đến đất đai (nếu có) theo quy định; (iii) Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 58 Luật Đất đai, Điều 13 và Điều 14 Nghị định này và phải sử dụng đất đúng mục đích. 

Điều 49 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đã quy định về điều kiện được chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản, trong đó có các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai. 

Điều 51 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 quy định về thủ tục chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án bất động sản. Theo đó, việc thẩm định điều kiện của nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án bất động sản được thực hiện trong quá trình thực hiện thủ tục thẩm định việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án bất động sản.

Khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai 2013 quy định, hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa là rất bất cập, vì hiện nay hầu hết những hộ sản xuất phi nông nghiệp mới có đủ vốn, trình độ quản lý để tổ chức sản nông nghiệp có diện tích lớn, chất lượng cao. Trong khi các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp được phép nhận chuyển nhượng đất trồng lúa thì năng lực về vốn quản lý tổ chức sản xuất lại yếu kém. Đề nghị không quy định ràng buộc đối tượng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp

Về nội dung kiến nghị này, đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng kết, đánh giá và có báo cáo đề xuất với Trung ương trong quá trình sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Khoá XI. Bộ Chính trị cũng đã có kết luận về chủ trương mở rộng đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp mà hiện nay Luật Đất đai năm 2013 đang quy định hạn chế như ý kiến cử tri đã nêu. 

Thể chế hoá chủ trương của Bộ Chính trị, hiện nay Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị bổ sung vào Chương trình năm 2020 (dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ 9 theo quy trình một kỳ họp) Nghị quyết về việc giải quyết một số vấn đề vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đai. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan chuẩn bị nội dung dự thảo Nghị quyết, trong có nội dung mở rộng cho phép hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, tổ chức kinh tế được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa.

Điểm a khoản 2 Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức, cá nhân nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai: "UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao". Như vậy, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐCP trái với quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai. Đề nghị sửa đổi Nghị định số 43/2014/NĐ-CP cho phù hợp với Luật Đất đai

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai quy định các trường hợp cấp Giấy chứng nhận thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ”. 

Do vậy, Điều 37 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận là phù hợp với Khoản 3 và không mâu thuẫn với khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013.

Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai không quy định trường hợp đấu thầu dự án có sử dụng đất. Trong khi pháp luật về nhà ở và đấu thầu có quy định lựa chọn chủ đầu tư thông qua hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất. Tuy nhiên, thiếu sự phối hợp ban hành các văn bản hướng dẫn trình tự thực hiện giao đất, cho thuê đất, xác định nghĩa vụ tài chính và quyết toán dự án cũng như thẩm định dự án trước khi bàn giao cho địa phương quản lý đất đối công trình hạ tầng kỹ thuật, dẫn đến khó khăn vướng mắc cho các địa phương trong công tác triển khai thực hiện, lúng túng trong tổ chức thực hiện. Đề nghị có văn bản hướng dẫn thi hành quy định cụ thể, chi tiết về các nội dung: trình tự thủ tục, việc xác định nghĩa vụ tài chính, quyết toán chi phí và thẩm định công trình đối với dự án có quy định sau khi đầu tư bàn giao hạ tầng kỹ thuật cho địa phương quản lý

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Ngày 28/02/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư (có hiệu lực từ ngày 20/4/2020 và thay thế Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày17/3/2015), trong đó đã quy định về trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất thông qua hình thức đấu thầu dự án có sử dụng đất được thực hiện theo trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất theo khoản 3 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định giải quyết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trường hợp các hộ gia đình cá nhân được UBND cấp xã đổi đất để xây dựng công trình công cộng như đường giao thông, trạm y tế, trường học... mà chỉ quy định việc giao đất trái thẩm quyền. Đề nghị bổ sung vào luật để địa phương có cơ sở thực hiện

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Pháp luật đất đai hiện hành không quy định về việc Ủy ban nhân dân cấp xã đổi đất để xây dựng công trình công cộng như cử tri nêu. Tuy nhiên, trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã cần sử dụng đất để xây dựng công cộng thì có thể áp dụng các quy định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, trong đó có quy định về việc bồi thường bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng và người được bồi thường bằng đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Như vậy, với quy định này cũng là phương thức để địa phương thực hiện.

Điều 37 Luật Đất đai quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thời kỳ lập quy hoạch sử dụng đất là 10 năm; khoản 1 Điều 46 Luật Đất đai quy định việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chỉ thực hiện trong các trường hợp sau: a) Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia; quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế - xã hội mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất; b) Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất; c) Có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất; d) Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương”. Trong khi Điều 52 Luật Quy hoạch năm 2017 quy định thời kỳ điều chỉnh quy hoạch là 5 năm. Trên thực tế, khi chính quyền (cấp huyện) lập quy hoạch từ đầu nhiệm kỳ, các năm tiếp theo là tổ chức thực hiện quy hoạch; xúc tiến đầu tư vào địa bàn nhằm phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho người dân; nhưng nhiều vị trí phù hợp quy hoạch sử dụng đất nhưng lại không đáp ứng được các tiêu chí của nhà đầu tư và ngược lại; dẫn đến không thu hút được nhà đầu tư, địa phương mất cơ hội. Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với Luật Quy hoạch

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: Để thống nhất với Luật Quy hoạch, nội dung liên quan đến thời kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tại Điều 37, khoản 1 Điều 46 Luật Đất đai đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch. Đồng thời, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn đầu thực hiện Luật Quy hoạch, ngày 16/8/2019 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 751/2019/UBTVQH14 giải thích một số điều của Luật Quy hoạch, theo đó tại Khoản 2 Điều 1 đã quy định: “Các quy hoạch nêu tại điểm c khoản 1 Điều 59 của Luật Quy hoạch đã được quyết định hoặc phê duyệt trước ngày 01/01/2019, trong quá trình thực hiện được điều chỉnh nội dung theo quy định của pháp luật có liên quan trước ngày Luật Quy hoạch có hiệu lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho đến khi quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch được quyết định hoặc phê duyệt”.

Khoản 5 Điều 24 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: “5. Việc cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp được giao đất không đúng thẩm quyền quy định tại Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể sau khi đã làm rõ và xử lý trách nhiệm đối với người giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã sử dụng đất ổn định, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trường hợp giao đất làm nhà ở thì chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân đã làm nhà ở và không có chỗ ở nào khác”. Như vậy, các điều kiện khác có thể đáp ứng nhưng điều kiện “không có chỗ ở nào khác” thì không hợp lý. Đề nghị bỏ điều kiện “đã làm nhà ở và không có chỗ ở nào khác” (Cử tri tỉnh Thanh Hóa).

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nhận thấy và đã sửa đổi bỏ điều kiện “đã làm nhà ở” cho tất cả các trường hợp giao đất trái thẩm quyền tại khoản 2 Điều 18 của Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT. 

Theo quy định tại Thông tư nêu trên thì điều kiện “không có đất ở, nhà ở nào khác” chỉ áp dụng đối với trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền trong giai đoạn từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 mà không điều chỉnh đối với trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004. Quy định như đã nêu là phù hợp do ngày 01/7/2004 là ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác giao đất, cho thuê đất đã được quy định cụ thể và chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tế ở một số địa phương do công tác quản lý đất đai bị buông lỏng nên vẫn còn tình trạng giao đất trái thẩm quyền. Để đảm bảo quyền có chỗ ở của người dân theo khoản 3 Điều 59 của Hiến pháp thì pháp luật về đất đai đã có quy định giải quyết cho đối tượng đã được giao đất trái thẩm quyền mà không có chỗ ở nào khác được xem xét cấp Giấy chứng nhận.

Cử tri phản ánh: Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không quy định khu vực đấu giá quyền khai thác khoáng sản phải là mặt bằng sạch. Tuy nhiên, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Dự án khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh không thuộc dự án thu hồi đất” (nghĩa là việc bồi thường theo hình thức thỏa thuận, các tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân). Như vậy, khi tổ chức đấu giá xong, đơn vị trúng đấu giá mới triển khai công tác bồi thường,giải phóng mặt bằng. Trường hợp đơn vị không thỏa thuận được để giải phóng mặt bằng thì dự án không triển khai được dẫn đến nhiều hệ lụy sau đấu giá. Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội xem xét sửa lại Luật Đất đai hoặc Luật Khoáng sản để phù hợp với thực tế, có thể thực hiện được

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Theo thống kê, đến nay đã có gần 500 khu vực có khoáng sản được gần 40 tỉnh, thành phố trong cả nước phê duyệt kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Trong đó, đến hết năm 2018 đã có trên 300 khu vực được gần 30 tỉnh, thành phố đấu giá thành công, trong tổng số các khu vực đã đấu giá thành công, các khu vực đã có kết quả thăm dò chiếm khoảng 20 %, còn lại là các khu vực chưa có kết quả thăm dò khoáng sản chiếm 80 %. Giá trúng đấu giá hầu hết đều tăng trên 10% so với giá khởi điểm. Như vậy, có thể nói đến nay quy định mới về đấu giá quyền khai thác khoáng sản của pháp luật về khoáng sản, nhất là đấu giá tại các khu vực chưa có kết quả thăm dò đã đi vào cuộc sống, góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước; bảo đảm công khai, minh bạch khi lựa chọn tổ chức, cá nhân đủ năng lực tham gia hoạt động khoáng sản. 

Liên quan đến các vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản, hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và địa phương tổ chức tổng kết, đánh giá 05 năm triển khai thực hiện Nghị định số 22/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại Văn bản số 8960/VPCP-CN ngày 19/9/2018 của Văn phòng Chính phủ. Theo đó, các nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa sẽ được nghiên cứu, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới. 

Tuy nhiên, trong thời gian này để tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản thành công, trước khi lập, phê duyệt Kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cần chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét, lựa chọn những khu vực khoáng sản phù hợp với Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản đã được phê duyệt. Đồng thời, khu vực khoáng sản khi tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản có tiêu chí như dễ tiến hành thu hồi đất nhằm đảm bảo tính khả thi, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Cử tri phản ánh: việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các mỏ được cấp phép trước năm 2013: Theo chỉ đạo của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tại Văn bản số 1014/ĐCKS-KTĐCKS ngày 9/7/2014 tạm thời chưa thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các mỏ được cấp phép trước năm 2013, đến nay đã quá lâu. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể về việc thu hay không thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các đơn vị được khai thác khoáng sản trong thời gian từ ngày 01/7/2011 đến 31/12/2013

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 101/2019/QH14 ngày 27/11/2019, theo đó Quốc hội đã xem xét, quyết định không thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của Luật khoáng sản số 60/2010/QH12 từ ngày 01/7/2011 đến hết ngày 31/12/2013.

Tại Khoản 3, điều 32, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 quy định: Chủ dự án đầu tư trong vùng đệm của khu bảo tồn phải lập báo cáo ĐTM trình Hội đồng thẩm định theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Do đó, một số dự án du lịch sinh thái có quy mô nhỏ cũng phải thực hiện việc lập báo cáo ĐTM, tuy nhiên, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường không quy định tất cả các chủ dự án đầu tư trong vùng đệm phải lập báo cáo ĐTM mà căn cứ vào loại hình và quy mô của từng dự án. Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi quy định chưa thống nhất về lập báo cáo ĐTM đối với dự án đầu tư trong vùng đệm của khu bảo tồn

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Đa dạng sinh học về việc chủ dự án đầu tư trong vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Vì vậy, việc lập báo cáo ĐTM đối với các dự án tại vùng đệm KBT thực hiện theo quy định của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường (trong đó có hướng dẫn cụ thể về loại hình và quy mô dự án liên quan đến KBT cần lập ĐTM). 

Hiện nay, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đang trong quá trình sửa đổi, danh mục các dự án liên quan đến KBT phải lập báo cáo ĐTM sẽ được xem xét quy định cụ thể trong Luật này và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia và hướng dẫn cho các địa phương phương án bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên để lồng ghép vào quy hoạch tỉnh

Về nội dung kiến nghị này, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau: 

Ngày 18/02/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 274/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì xây dựng Quy hoạch theo nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 274/QĐ-TTg nêu trên đảm bảo chất lượng, tiến độ, hiệu quả. 

Các nội dung của phương án bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh đã được quy định tại khoản 9 Điều 28 Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch. Trong các nội dung tại khoản này, Nghị định có quy định các yêu cầu đối với phương án phân vùng môi trường, phương án bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, xử lý chất thải, quan trắc môi trường phải được thực hiện trên cơ sở phân vùng môi trường và định hướng trong quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học quốc gia, quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia. Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ cụ thể hóa nội dung bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học trong quá trình xây dựng các quy hoạch nêu trên làm căn cứ hướng dẫn xây dựng phương án trong quy hoạch tỉnh. 

Trên đây là ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường về các nội dung mà cử tri tỉnh Thanh Hóa quan tâm. Trân trọng kính gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa để thông tin tới cử tri được biết. 

Trân trọng cảm ơn./.