Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, có chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên quốc gia

Lĩnh vực môi trường 04/06/2019

Cử tri đề nghị Bộ, ngành và các cơ quan chức năng tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, có chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên quốc gia; tiếp tục nâng cao trách nhiệm trong quản lý Nhà nước nhằm đảm bảo việc khai thác và sử dụng tài nguyên đúng quy định, đúng mục đích và tiết kiệm; sớm có các giải pháp để hạn chế thấp nhất tình trạng sạt, xói, lở bờ sông, ven biển tại các địa phương, góp phần ổn định đời sống và sản xuất cho nhân dân các vùng bị ảnh hưởng.

Trong thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách để tăng cường bảo vệ môi trường, chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên, cụ thể như đã bổ sung tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên đối với khoáng sản tại Điều 227 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017; đồng thời tại Luật này cũng đã sửa đổi, bổ sung các tội phạm về môi trường. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản; Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật và các Nghị định, đặc biệt đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-BTNMT ngày 01/3/2013 quy định về lập bản đồ hiện trạng, mặt cắt hiện trạng khu vực khai thác; thống kê, kiểm kê trữ lượng khoáng sản đã khai thác vào năm 2013; lần đầu tiên ban hành Thông tư số 61/2017/TT-BTNMT ngày 22/12/2017 quy định phương pháp tính, quy trình và mẫu biểu xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận trong khai báo sản lượng thực tế của nhiều doanh nghiệp, chống thất thu ngân sách; banh hành nhiều Thông tư hướng dẫn phương pháp kỹ thuật thăm dò khoáng sản, các quy chuẩn, tiêu chuẩn lĩnh vực khoáng sản; Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng đã và đang rà soát, bổ sung các quy hoạch, ban hành tiêu chuẩn xuất khẩu khoáng sản, yêu cầu về nội dung thiết kế mỏ,…

Trong năm 2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành việc xây dựng trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Đặc biệt, lần đầu tiên Bộ đã xây dựng, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông, theo đó, đã thể chế hóa 05 chính sách mới, đó là: quản lý cát, sỏi lòng sông gắn với trách nhiệm bảo vệ lòng, bờ, bãi sông; thống nhất quản lý, quy hoạch cát, sỏi theo lưu vực sông; quản lý chặt chẽ theo 04 khâu từ quy hoạch đến cấp phép; mua bán, vận chuyển; đẩy mạnh cấp phép thông qua đấu giá quyền khai thác; quy định trách nhiệm cụ thể, rõ ràng của chính quyền địa phương các cấp, các Bộ, ngành theo hướng mỗi một nhiệm vụ hay một việc chỉ có một cơ quan thực hiện.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo tổng kết 8 năm thực hiện Luật Khoáng sản năm 2010 để đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, trong năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ thông qua các chính sách dự kiến được xây dựng trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Theo kế hoạch, dự án Luật này sẽ được trình Quốc hội trong năm 2020. Bên cạnh đó, trong năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục rà soát, xây dựng để trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị định thay thế Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.

Về các giải pháp để hạn chế thấp nhất tình trạng sạt, xói, lở bờ sông, ven biển tại các địa phương, trong thời gian qua, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, giảm thiểu hiện tượng này:

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 26/8/2016 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020, trong đó có các chương trình mục tiêu sau:

Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; nâng độ che phủ rừng lên 42%; diện tích rừng các loại đạt 14,4 triệu ha và giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì Chương trình này.

Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là củng cố, tu bổ khoảng 650km đê biển; chủ động phòng chống và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra.

Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, có mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành 30 dự án chuyển tiếp; 42 dự án trồng rừng ngập mặn ven biển, phòng hộ đầu nguồn và một số dự án ưu tiêu cấp bách tại Văn bản số 1443/TTg-QHQT ngày 19/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ sau khi đã rà được rà soát; trồng, phục hồi 10.000 ha rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, hấp thụ 02 triệu tấn khí CO2 mỗi năm và tạo sinh kế ổn định cho người dân; xây dựng 01 hệ thống giám sát biến đổi khí hậu, 01 hệ thống giám sát, dự báo xâm nhập mặn thuộc quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng, nâng cấp 200km đê, kè sông, biển xung yếu ở những khu vực có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuất, tính mạng và đời sống của trên 03 triệu người dân ở những khu vực ven sông, ven biển.

Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17/12/2014 phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Quyết định số 914/QĐ-TTg ngày 27/5/2016 phê duyệt kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó, mục tiêu khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên ở đới bờ; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường; bảo vệ, duy trì và phục hồi các sinh cảnh, hệ sinh thái, tài nguyên, nguồn lợi và các giá trị tự nhiên, văn hóa, lịch sử tại đới bờ; ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực do con người, tự nhiên và biến đổi khí hậu đến tài nguyên và môi trường đới bờ.

Bộ đã triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên-môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, trong đó có dự án “Điều tra, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất công trình, đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng lãnh thổ phục vụ xây dựng và phát triển hạ tầng dải ven bờ biển Việt Nam”. Dự án bước đầu đã điều tra, khảo sát, lập bản đồ địa chất công trình tỷ lệ 1:100.000 trên diện tích 16.829 km2 khu vực đất liền ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế với 10.119km2, khu vực dải đất liền ven bờ biển từ Liên Chiểu (Đà Nẵng) đế Ninh Chữ (Ninh Thuận) với diện tích 6.710km2. Lập bản đồ địa chất công trình tỷ lệ 1:25.000 trên diện tích 850km2 tại các khu vực trọng điểm ven biển Thái Bình-Ninh Bình (100km2), ven biển Thanh Hóa-Nghệ An (365km2) và ven biển Quảng Trị - Thừa Thiên Huế (385km2). Khoanh định được các khu vực kém ổn định về địa chất công trình, đồng thời đã xác định các quá trình địa chất động lực công trình như hiện tượng ngập lụt, xói lở và bồi tụ, nhiễm mặn nguồn nước (mặt và dưới đất), nhiễm mặn đất đá, trong đó ngập và xói lở bồi tụ là chịu ảnh hưởng lớn nhất và phức tạp nhất.

Bộ đã thực hiện tổng kết Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; xây dựng, trình cấp có thẩm quyền để trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó, đã đề ra một số mục tiêu: Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000. Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực; có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển.

Hiện nay, Bộ đang tổ chức xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch 05 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu và định hướng chiến lược của Nghị quyết; xác định rõ nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ thường xuyên, có lộ trình và phân công cụ thể trình Chính phủ xem xét, ban hành, triển khai thực hiện.

Để đảm bảo việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định nhiều công cụ quan trọng như: quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ; hành lang bảo vệ bờ biển. Việc áp dụng, triển khai thực hiện các công cụ này sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn, giảm thiểu hiện tượng xâm thực, sạt lở bờ biển, xâm nhập mặn.

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó, đã giao:

Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, hoàn thiện, lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ của đồng bằng sông Cửu Long. Kiểm soát chặt chẽ việc khai thác cát; lượng cát khai thác, vị trí và thời gian khai thác phải dựa vào kết quả phân tích lượng cát về đồng bằng sông Cửu Long theo từng năm bảo đảm không tăng nguy cơ xói lở bờ sông, bờ biển.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư hiện có để xây dựng hệ thống cống điều tiết lũ, ngăn mặn, khắc phục các đoạn sạt lở nghiêm trọng, trực tiếp gây ảnh hưởng đến nhà cửa của nhân dân và bảo vệ đất, rừng ngập mặn ven biển.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án bảo vệ bờ biển, củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, phòng chống xói lở bờ biển; tập trung đầu tư xử lý ngay những đoạn xói lở, sạt lở bờ sông, bờ biển nghiêm trọng. Xây dựng quy hoạch chỉnh trị sông gắn với quy hoạch sử dụng đất ven sông theo hướng dành không gian thoát lũ, xây dựng công trình giao thông kết hợp với đê điều.

Bộ Xây dựng rà soát, chỉnh sửa, bổ sung và triển khai có hiệu quả quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, nông thôn phù hợp với các đặc trưng sinh thái tự nhiên của vùng, quan tâm bố trí sắp xếp bố trí lại dân cư, di dời nhà ở ven sông, kênh, rạch giảm thiểu nguy cơ sạt lở.