Thực trạng, nguyên nhân
Do đặc điểm khí hậu của ĐBSCL, lượng mưa trong mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) rất ít nên trong thực tế hầu như năm nào cũng xảy ra khô hạn và có thể nói đây là một trong những đặc tính thường xuyên của khí hậu nơi đây. Từ năm 2011 trở về trước, xâm mặn thường xuất hiện trên vùng các cửa sông ĐBSCL từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau, với đỉnh điểm là cuối tháng 4 và đầu tháng 5. Trong những năm gần đây, do các hoạt động khai thác sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công và biến đổi khí hậu diễn , dòng chảy kiệt có xu thế gia tăng hơn so với trước đây, thời gian xâm nhập mặn cao nhất trong mùa khô có xu thế xuất hiện sớm hơn (tháng 2, tháng 3). Những năm khô hạn, ranh mặn có thể sâu hơn trung bình 3-5 km, tùy từng sông (năm 1993, 1998, 2004, 2010); riêng các năm hạn hán xâm nhập mặn kỷ lục như năm 2015-2016, 2019-2020, ranh mặn đã sâu hơn trung bình từ 5-15 km. Đợt hạn hán, xâm nhậm mặn mùa khô năm 2019-2020 vừa qua có lượng nước vào vùng ĐBSCL thấp nhất lịch sử, xâm nhập mặn diễn ra sớm hơn và vào sâu nội đồng, được đánh giá là nghiêm trọng hơn đợt hạn, mặn lịch sử mùa khô năm 2015- 2016.
Dự báo mùa khô năm 2020-2021, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL có khả năng đến sớm hơn TBNN nhưng không nghiêm trọng như mùa khô năm 2019-2020
Các giải pháp
Triển khai xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch tài nguyên nước vùng đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu và tác động do các hoạt động khai thác sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công; điều tra, đánh giá, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất; quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất tại vùng ĐBSCL.
Tập trung điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất, nhất là các tầng chứa nước nằm sâu để phục vụ cấp nước sinh hoạt ở các vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn; xây dựng các công trình khai thác nước ngầm để kết hợp dự phòng sẵn sàng ứng phó với xâm nhập mặn khi cần thiết.
Tăng cường chia sẻ sẻ thông tin, dữ liệu toàn vùng; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp dùng chung cho cả vùng về khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước, đất đai và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa trung ương và địa phương, các ngành.
Đàm phán, thuyết phục, đấu tranh để các quốc gia có các hồ chứa thủy điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, cùng hợp tác trong việc vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông ở mức phù hợp, ít nhất cũng bằng mức trung bình như chúng ta đã và đang làm như vậy khi vận hành các hồ trên lưu vực sông Sê San, Srêpok để bảo đảm nguồn nước cho Cam Pu Chia.