Thực trạng, nguyên nhân
Miền Trung và Tây Nguyên có nguồn tài nguyên nước mặt khá dồi dào bởi các hệ thống sông thuộc các lưu vực sông lớn như: sông Vu Gia -Thu Bồn; sông Vệ; sông Trà Bồng; sông Kôn, sông Hà Thanh (toàn vùng có tổng số 305 sông/suối trên 10km, trong đó có 34 sông liên tỉnh, 271 sông/suối nội tỉnh). Nguồn nước dưới đất có vai trò quan trọng cho cấp nước sinh hoạt đô thị, nông thôn cho một số tỉnh trong vùng, phần lớn các tầng chứa nước ở Tây Nguyên đều có chất lượng tốt. Nhìn chung nước dưới đất toàn vùng có thể sử dụng để làm nguồn cấp nước sinh hoạt và các mục đích khác. Tuy nhiên, tài nguyên nước khu vực Miền Trung và Tây Nguyên chứa đựng những yếu tố không bền vững do phân bố không đều, về mùa lũ, diễn biến phức tạp, tổng lượng dòng chảy chiếm từ 70-85%, còn về mùa cạn mặc dù thời gian kéo dài từ 6-9 tháng nhưng tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm từ 15-30%.
Theo thống kê sơ bộ thì có tổng số khoảng 1.632 hồ chứa có dung tích từ 0,1 triệu m3 trở lên (Miền Trung 416 hồ, Tây Nguyên 1127 hồ), tổng dung tích các hồ này vào khoảng 15,4 tỷ m3. Trong đó có khoảng 89 hồ chứa trong các Quy trình vận hành liên hồ chứa với tổng dung tích khoảng 13,76 tỷ m3. Vai trò của các hồ chứa này trong mùa cạn là hết sức quan trọng, góp phần đáng kể trong việc điều tiết, cấp nước cho hạ du. Tuy nhiên, với đặc điểm địa hình và năng lực của các hồ chứa, thì các hồ chứa lớn, quan trọng ở khu vực này chủ yếu chỉ có vai trò giảm lũ mà không có khả năng cắt lũ cho hạ du.
Nguồn nước sử dụng ở khu vực Miền Trung chủ yếu là từ nguồn nước mặt, đối với khu vực Tây Nguyên thì nguồn nước khai thác là cả nước mặt và nguồn nước dưới đất. Liên quan đến cấp nước cho sinh hoạt, thì có khoảng 289 công trình Nhà máy nước, công trình cấp nước tập trung với tổng lưu lượng khai thác khoảng 1,1 triệu m3/ngày đêm, trong đó lượng khai thác từ nước mặt khoảng 0,8 triệu, chiếm 72%.
Theo thống kê sơ bộ thì ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên có khoảng 179 xã của 41 huyện thiếu nước hoặc có nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt, trong đó đáng chú ý là các tỉnh Quảng Nam, Gia Lai, Phú Yên,... Các xã xảy ra tình trạng thiếu nước chủ yếu nằm ngoài khu vực điều tiết của các hồ chứa lớn quan trọng trong Quy trình vận hành liên hồ chứa, ngoài vùng cấp nước của các hồ chứa thủy lợi và nguyên nhân quan trọng là tác động của biến đổi khí hậu.
Trong thời gian qua, tình trạng hạn hán, thiếu nước xảy ra trên phạm vi rộng và trên hầu hết các lưu vực sông xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng ngay từ đầu mùa cạn (tháng 12/2019). Lượng dòng chảy trên các sông phổ biến thiếu hụt từ 40-60%, một số sông thiếu hụt trên 70%, hiện tượng này gây thiếu hụt lượng nước ngay trong mùa mưa, lũ năm 2019 (từ tháng 7 năm 2019). Cũng giống như khu vực Miền Bắc, nhiều hồ chứa, đặc biệt là các hồ chứa lớn, quan trọng, lượng nước tích được đầu mùa cạn là không nhiều, chỉ từ 40-70% tùy từng hồ, đặc biệt có hồ chứa chỉ tích được khoảng 15-25%. Các hồ chứa thủy lợi vừa và nhỏ cũng chỉ tích được 70-80%, nhiều hồ chỉ đạt 40-50%.
Các giải pháp đã thực hiện
Trước tình hình thiếu hụt lượng mưa, dòng chảy nêu trên, ngay từ đầu mùa lũ năm 2019 (giữa năm), trên cơ sở dự báo, cảnh báo và nhận định của Tổng cục Khí tượng thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thông báo cho các địa phương trên phạm vi cả nước và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để xem xét, chỉ đạo.
Đối với các lưu vực sông thuộc khu vực Miền Trung, Tây Nguyên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo hết sức gắt gao các cơ quan, đơn vị liên quan, thực hiện dự báo, cảnh báo, cung cấp thông tin kịp thời về tình hình khí tượng, thủy văn. Trong đó đã đôn đốc, chỉ đạo kịp thời việc điều chỉnh vận hành, điều tiết xả nước các hồ chứa lớn, quan trọng trên các lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Hương, Vu Gia - Thu bồn, sông Ba, sông Sê San, sông Đồng Nai,… để góp phần vừa cấp nước cho hạ du vừa bảo đảm đủ nguồn nước cấp cho hạ du trong thời gian còn lại của mùa cạn, nhất là chuẩn bị bước vào thời kỳ nắng nóng, nhu cầu sử dụng nước, sử dụng điện tăng cao. Mặc dù từ cuối mùa lũ, đầu mùa cạn, trên các lưu vực sông ở khu vực này đều xảy ra tình trạng thiếu nước, nguồn nước các hồ chứa là rất hạn chế như đã nói ở trên nhưng do việc vận hành phù hợp đã giảm thiểu tối đa tác động do hạn hán, thiếu nước gây ra.
Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã bàn giao kết quả của chương trình điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cấp nước sinh hoạt vùng cao, vùng khan hiếm nước, số liệu quan trắc, dự báo và cảnh báo tài nguyên nước cho các địa phương để xây dựng, thực hiện các giải pháp phòng chống hạn hán thiếu nước, xâm nhập mặn trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho nhân dân những vùng đang xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng. Song song với đó, trong thời gian qua Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo các cơ quan chức năng công tác tìm kiếm thăm dò nguồn nước dưới đất để có thể cung cấp cho các vùng khan hiếm nước và bàn giao các giếng khoan cho những địa phương sử dụng để cấp nước sinh hoạt.
Giải pháp triển khai trong thời gian tới
Trong thời gian tới Bộ sẽ tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường, nâng cao độ chính xác trong công tác dự báo, cảnh báo các hiện tượng cực đoan, đặc biệt là hạn hán, xâm nhập mặn; giám sát chặt chẽ các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước và giám sát việc vận hành các hồ chứa cấp nước cho hạ du; đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò nguồn nước dưới đất để có thể cung cấp cho các vùng khan hiếm nước mà nguồn nước các hồ chứa thủy lợi, thủy điện không cấp tới được. Bên cạnh đó, Bộ sẽ đẩy mạnh xây dựng quy hoạch tổng hợp lưu vực Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San, SrePok,... trong đó sẽ tập trung xây dựng các kịch bản, phương án điều hòa, phân bổ nguồn nước trong điều kiện xảy ra hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng.