Vấn đề an ninh nguồn nước

Lĩnh vực tài nguyên nước 09/10/2020

Hiện nay, vấn đề an ninh nguồn nước đang được cử tri quan tâm và lo lắng. Đâu là thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này?

Thực trạng và nguyên nhân

Nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài: phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam đều là các sông xuyên biên giới mà Việt Nam là quốc gia ở hạ nguồn. Phần diện tích nằm ngoài lãnh thổ của các lưu vực sông chiếm 71,7% tổng diện tích của toàn bộ các lưu vực sông. Xét theo tổng lượng dòng chảy, lượng lượng nước từ nước ngoài chảy vào chiếm 63% tổng lượng dòng chảy các sông của nước ta. Hợp tác chia sẻ nguồn nước tại các lưu vực sông xuyên biên giới luôn đối mặt với các thách thức đặc biệt trong bối cảnh các năm gần đây, các quốc gia ở thượng nguồn đã và đang đẩy mạnh việc khai thác sử dụng nước trên các sông liên quốc gia.

Nguồn nước phân bố không đều theo không gian và thời gian: lượng nước trong 3-5 tháng mùa lũ chiếm tới 70-80 lượng nước cả năm, trong khi đó 7-9 tháng mùa kiệt chỉ xấp xỉ 20-30% lượng nước cả năm.

Tác động của phát triển kinh tế-xã hội gây sức ép về số lượng và chất lượng đến nguồn nước các các sông, suối và các tầng chứa nước: nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả vẫn còn phổ biến, tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước vẫn còn đang diễn ra đặc biệt tại vùng trung và hạ lưu, khu vực tập trung đông dân cư và các khu công nghiệp, các làng nghề.

Biến đổi khí hậu đã và đang tác động rất lớn đến tài nguyên nước của Việt Nam: tài nguyên nước sẽ chịu những ảnh hưởng lớn nhất và sớm nhất do biến đổi khí hậu thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, điển hình là hiện tượng hán hán, thiếu nước trên các lưu vực sông đang diễn ra với tầng suất ngày càng thường xuyên hơn và cường độ nghiêm trọng hơn.

Về quản trị nước: các cơ chế tài chính, chế tài, công cụ kiểm soát, giám sát chưa hiệu quả; các cơ chế hợp tác, giải quyết các vấn đề nguồn nước xuyên biên giới còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành cũng là một thách thức lớn cùng với đó vẫn còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; thiếu nguồn lực cho công tác quản lý...

Mất an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt: việc quản lý an ninh nguồn nước được thực hiện chủ yếu theo quy định của Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường. Việc sản xuất nước sạch, phân phối, tiêu thụ nước sạch được lại thực hiện theo quy định của Nghị định về sản xuất, cung cấp nước sạch do Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân các cấp chỉ đạo hoặc thêm quy định tại Luật Thủy lợi nếu việc khai thác nước này nằm trong hệ thống công trình thủy lợi. Việc quản lý, giám sát chất lượng sạch sau quá trình sản xuất cho đến cấp nước các hộ dân được thực hiện theo quy định về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt của Bộ Y tế. Bên cạnh đó, còn chưa có chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi gây ô nhiễm nguồn nước và các hành vi vi phạm các quy định pháp luật của các tổ chức, cá nhân liên quan đến cung cấp, tiêu thụ nước sạch cấp cho nhân dân.

Giải pháp

Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên nước; trong thời gian tới, tiến hành rà soát, sửa đổi Luật tài nguyên nước và Luật Bảo vệ môi trường, trong đó có các quy định khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển tài nguyên nước và các dịch vụ về nước theo phương thức xã hội hóa.

Tập trung xây dựng và phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng, Cửu Long và các lưu vực sông lớn làm cơ sở cho các quy hoạch có khai thác, sử dụng nước nhằm cân bằng các nguồn nước, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước nước một cách hợp lý theo không gian, thời gian đặc biệt là quy định các phương án phân bổ nguồn nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước. Đồng thời tổng kiểm kê tài nguyên nước và hiện trạng khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước trên phạm vi cả nước.

Hoàn chỉnh việc xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên nước, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; trên cơ sở đó, giám sát, chỉ đạo việc vận hành các hồ chứa lớn quan trọng tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, đặc biệt đối với các lưu vực có chuyển nước như Vu Gia-Thu Bồn, sông Ba,… Đồng thời, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra; tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước thông qua hình thức giám sát tự động, trực tuyến.

Xây dựng hệ thống giám sát, dự báo cảnh báo sớm diễn biến tài nguyên nước vùng ĐBSCL, bao gồm cả phần thượng nguồn, toàn lưu vực và sụt lún, sạt lở bờ sông bờ biển; cần phải quan trắc giám sát tự động cả về số lượng và chất lượng các nguồn nước khu vực sát biên giới Trung Quốc; hợp tác với Trung Quốc trong việc chia sẻ số liệu vận hành khai thác, sử dụng nước của các công trình phía thượng lưu.

Nghiên cứu đề xuất các phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt với quy mô phù hợp với vùng nhằm tăng cường trữ nước, điều tiết nguồn nước để bảo đảm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Đặc biệt, hoàn thiện các chính sách nhằm thu hút đầu tư các công trình trữ nước, điều tiết nước có hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu gây ra các vấn đề lũ lụt, hạn hán thiếu nước nghiêm trọng như hiện nay.

Thành lập và đưa vào hoạt động các Ủy ban lưu vực sông để thực hiện có hiệu quả và nâng cao vai trò trong việc điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước.

Về hợp tác quốc tế, quy định cụ thể về hợp tác quốc tế trong bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nước cho các mục đích sử dụng và việc thực thi các điều ước quốc tế có liên quan đến tài nguyên nước trên cơ sở hợp tác, phối hợp, đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo tồn tài nguyên nước, trên nguyên tắc bảo đảm công bằng, hợp lý và bảo đảm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia. Trong đó trước mắt và lâu dài phải bảo đảm an ninh nguồn nước ở mức cao nhất, nhất là nguồn nước cấp cho sinh hoạt, giảm được tối đa sự phụ thuộc vào nguồn nước quốc tế nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay.

Hoàn thiện các chính sách về quản lý tài nguyên nước, hoạt động cung cấp và tiêu thụ nước sạch, các quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng nước sạch cấp cho mục đích sinh hoạt; có chế tài nghiêm khắc hơn đối với các hành vi gây ô nhiễm nguồn nước và các hành vi vi phạm các quy định pháp luật của các tổ chức, cá nhân liên quan đến cung cấp, tiêu thụ nước sạch cấp cho nhân dân. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và ý thức và nghĩa vụ của người dân trong việc giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ chất lượng nước các sông, suối, hồ, ao,… nhất là các nguồn nước cấp cho sinh hoạt.