Đánh giá việc thực hiện các quy định của Nghị định 33/2017/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản

Thông tin chỉ đạo điều hành 26/10/2019

Từ khi Nghị định 33 có hiệu lực thi hành, công tác tranh tra, kiểm tra lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản đã được được tăng cường ở cả Trung ương và địa phương. Việc triển khai thực hiện thanh tra, kiểm tra đã góp phần đưa hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước và khoáng sản đi dần vào nề nếp; ý thức chấp hành pháp luật về tài nguyên nước và khoáng sản của tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này được nâng cao.  Bên cạnh những kết quả đã đạt được như đã nêu trên, việc thực hiện Nghị định 33 vẫn còn một số tồn tại bất cập và khó khăn, vướng mắc nhất định.

Các kết quả đạt được

Về lĩnh vực khoáng sản, nhiều hành vi vi phạm đã được phát hiện và xử lý như: Khai thác vượt quá công suất quy định tại Giấy phép khai thác; khai thác ra ngoài ranh giới khu vực được phép khai thác; khai thác không đúng trình tự, hệ thống khai thác xác định trong thiết kế mỏ được phê duyệt; lập bản đồ hiện trạng, bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác nhưng thông tin thể hiện trên bản đồ, bản vẽ không đầy đủ theo quy dịnh và sai so với thức tế hiện trạng khai thác khoáng sản v.v….

Về lĩnh vực tài nguyên nước, nội dung các tồn tại, vi phạm chủ yếu phát hiện qua kiểm tra là: Chưa có Giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất; Chưa thực hiện chế độ quan trắc, giám sát định kỳ đối với nguồn nước khai thác theo quy định; Chưa thiết lập vành đai bảo vệ cửa lấy nước; Không có báo cáo hàng năm gửi Sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình kết quả khai thác, sử dụng nước và các vấn đề phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng nguồn nước.

Hiệu quả của Nghị định 33/2017/NĐ-CP được thể hiện rõ qua công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính tại các địa phương:

Thứ nhất, từ khi Nghị định 33/2017/NĐ-CP có hiệu lực, các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố và UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã tiến hành 16 cuộc thanh tra, kiểm tra (bao gồm theo kế hoạch và đột xuất). Qua đó phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính đối với 04 tổ chức, cá nhân với tổng số tiền phạt là 205.000.000 đồng.

Thứ hai, tỉnh Tiền Giang đã tổ chức 64 cuộc kiểm tra, phát hiện xử lý vi phạm hành chính 31 trường hợp với 16 tổ chức và 15 cá nhân, thu nộp ngân sách số tiền là 931.186.949 đồng.

Thứ ba, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình đã tiến hành 01 cuộc kiểm tra hoạt động khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước đối với 07 tổ chức. Qua kiểm tra, có 07 tổ chức có tồn tại, sai phạm trong hoạt động khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước.

 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn triển khai thi hành

Bên cạnh những kết quả đã đạt được như đã nêu trên, việc thực hiện Nghị định 33 vẫn còn một số tồn tại bất cập và khó khăn, vướng mắc nhất định. Cụ thể như sau:

Về lĩnh vực khoáng sản

Thứ nhất, một số hành vi đã quy định nhưng khó áp dụng trong thực tế hoặc không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật liên quan cần sửa đối như:

Khoản 3 Điều 31 quy định xử phạt đối với hành vi thăm dò vượt quá phạm vi ranh giới độ sâu được phép thăm dò từ 01 m đến dưới 02 m (hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động thăm dò từ 01 đến dưới 03 tháng).

Khoản 4 Điều 31 quy định xử phạt đối với hành vi thăm dò vượt quá phạm vi ranh giới độ sâu được phép thăm dò từ 02 m đến dưới 10 m(hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động thăm dò từ 03 đến 06 tháng).

Khoản 3 Điều 35 quy định xử phạt đối với hành vi nộp báo cáo định kỳ hoạt động khai thác khoáng sản chậm từ 15 ngày đến dưới 30hiện trong thực tế ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ báo cáo (nộp trong thời gian từ ngày 15 tháng 1 đến trước ngày 30 tháng 1 hàng năm). Tuy nhiên, điểm a khoản 4 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP lại cho phép thời hạn nộp báo cáo định kỳ trước ngày 01 tháng 02 hàng năm.

Khoản 6, Điều 35 quy định “Tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác khoáng sản từ 01 tháng đến dưới 03 tháng đối với trường hợp đã nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nhưng không đầy đủ theo thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Tuy nhiên chưa nói đến ”không đầy đủ” ở mức độ nào, đã nộp được 50% hay 80%..., kể cả doanh nghiệp nộp 1% trong số tiền phải nộp, cũng gọi là đã nộp nhưng không đầy đủ. Vì vậy, cần quy định cụ thể hơn.

Đối với hành vi về cắm mốc các điểm khép góc khu vực được phép khai thác khoáng sản (khoản 1 và khoản 2 Điều 36) chưa quy định với hành vi đã cắm mốc các điểm khép góc khu vực được phép khai thác nhưng chưa tiến hành bàn giao theo quy định, không quản lý để mất mốc đã cắm và bàn giao.  

Đối với hành vi khai thác vượt quá phạm vi ranh giới độ sâu được phép khai thác quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 36 (đến dưới 01 m, từ 01 mét đến dưới 02 m, từ 02 m đến dưới 05 m, từ 05 m trở lên) còn nhiều bất cập vì một số tổ chức, cá nhân khai thác vượt phạm vi ranh giới độ sâu cho phép nhưng chỉ trong phạm vi diện tích rất nhỏ; do đó với hành vi này cần khống chế diện tích bề mặt để có quy định phù hợp. 

Đối với hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 7 Điều 36: “Tịch thu toàn bộ khoáng sản đã khai thác trong diện tích vượt ra ngoài phạm vi của khu vực được phép khai thác…” cần xem xét sửa đổi theo hướng “Tịch thu toàn bộ khoáng sản hoặc giá trị bằng tiền tương ứng đã khai thác trong phạm vi vượt ra ngoài  khu vực được phép khai thác…”.

Đối với hành vi vi phạm như khai thác khoáng sản ra ngoài ranh giới khu vực được phép khai thác, biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 8 Điều 36 là: “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” còn chưa cụ thể về cách tính số lợi bất hợp pháp dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, khó khăn trong việc áp dụng.

Quy định lắp đặt trạm cân và hệ thống camera giám sát tại nơi vận chuyển quặng nguyên khai ra khỏi mỏ (khoản 1 Điều 39) đối với các mỏ khai thác cát, sỏi còn chưa phù hợp so với thực tế, vì khai thác cát, sỏi đa số bằng tàu, thuyền hút cát và thường trải dài trên một đoạn sông, suối nên việc lắp đạt trạm cân là rất khó thực hiện.

Tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 40 Nghị định đều quy định đối với hành vi khai thác vượt quá công suất được phép khai thác hàng năm nghi trong giấy phép khai thác khoáng sản với tổng khối lượng khoáng sản nguyên khai đã khai thác trong năm vượt từ 5.000 tấn đến dưới 10.000 tấn mà mức độ áp dụng hình thức phạt tiền lại khác nhau. 

Tại khoản 4 Điều 44 quy định hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ tang vật là khoáng sản hoặc toàn bộ giá trị bằng tiền của khối lượng khoáng sản đã tiêu thụ; tịch thu phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính đối với khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép từ 50 m3 trở lên. Quy dịnh này sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện đấu tranh, xử lý đối với các đối tượng khai thác cát trái phép do các đối tượng này sẽ sử dụng các phương tiện nhỏ hơn 50 m3 để khai thác, vận chuyển.

Một số quy định về tước quyền sử dụng giấy phép khai thác khoáng sản quá nặng, khi hành vi vi phạm chưa nghiêm trọng như: (1) Khoản 3 Điều 40 quy định xử phạt đối với trường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản từ 25% đến dưới 50% hoặc tổng khối lượng khoáng sản nguyên khai đã khai thác trong năm vượt từ 5.000 tấn đến dưới 10.000 tấn. Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền xử dụng giấy phép khai thác khoáng sản từ 03 đến 06 tháng; (2) Khoản 4 Điều 40 quy định xử phạt đối với trường hợp khai thác vượt công suất được phép khai thác hàng năm nêu trong giấy phép khai thác khoáng sản từ 50% đến dưới 100% hoặc tổng khối lượng khoáng sản nguyên khai đã khai thác trong năm vượt từ 10.000 tấn đến dưới 20.000 tấn. Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền xử dụng giấy phép khai thác khoáng sản từ 06 đến 12 tháng. 

Thứ hai, có nhiều hành vi mới trong thực tế nhưng chưa đề cập trong Nghị định 33 cần bổ sung như:

Trường hợp không lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy phép khai thác khoáng sản đối với giấy phép cấp trước ngày Luật khoáng sản 1996 có hiệu lực nhưng có nội dung không phù hợp quy định của Luật khoáng sản hiện hành.

Trường hợp phải điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định tại Nghị định 158/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản, nhưng tổ chức, cá nhân không nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định.

Trường hợp khai thác khoáng sản mà không có giấy phép khai thác khoáng sản tại khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản.

Trường hợp,tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản trước ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013 có hiệu lực thi hành nhưng không nộp hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản về Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh theo thẩm quyền cấp phép khai thác.

Trường hợp không nộp Báo cáo đột xuất hoạt động khoáng sản theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về khoáng sản.

Trường hợp báo cáo sản lượng khoáng sản đã khai thác hàng năm sai so với thực tế.

Trường hợp cơ quan nhà nước yêu cầu giám định mà kết quả giám định cho thấy thông tin tổ chức, cá nhân cung cấp sai thì tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải hoàn trả chi phí giám định quy định (cho các hành vi khai thác ra ngoài phạm vi được cấp phép, lập bản đồ hiện trạng mỏ không đúng thực tế).

Đã quá thời hạn từ 30 ngày trở lên trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các hình thức xử phạt. 

Đã quá thời hạn trong thông báo kết quả kiểm tra, kết luận thanh tra nhưng không có báo cáo kết quả thực hiện việc khắc phục theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà không thuộc trường hợp bất khả kháng v.v….

Về lĩnh vực tài nguyên nước

Qua công tác thanh tra, kiểm tra, cũng đã ghi nhận được một số bất cập, lý do dẫn đến việc vi phạm pháp luật tài nguyên nước, cụ thể: Các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước chưa cập nhật, nắm bắt được các văn bản pháp luật mới để thực hiện, dẫn đến vi phạm; Một số quy định của pháp luật khó thực hiện, cần được hướng dẫn kỹ hơn; Một số tổ chức, cá nhân phản ánh số lượng các báo cáo theo quy định quá nhiều, nội dung chồng chéo; Một số quy nội dung quy định chưa rõ, cần được hướng dẫn kỹ hơn; Việc vận hành của các công trình hồ chứa lớn thuộc quy trình vận hành liên hồ chứa phụ thuộc nhiều vào các yếu tố thủy văn, bị ảnh hưởng bởi El Nino, dẫn đến không thể thực hiện các quy định trong quy trình vận hành liên hồ chứa; Chế tài xử phạt của Nghị định 33/2017/NĐ-CP đối với một số hành vi là chưa đủ nặng, chưa đủ tính răn đe, vì vậy một số doanh nghiệp bất chấp vi phạm vì lợi nhuận thu lại cao hơn; Sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau khiến doanh nghiệp nằm ở tình thế trên de dưới búa, nếu tuân thủ quy định này sẽ vi phạm quy định kia và ngược lại; Một số quy định pháp luật mới vẫn chưa có chế tài xử phạt.