Các nhiệm vụ thực hiện gồm: Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá trị kinh tế, thực trạng và xu hướng diễn biến của các nguồn tài nguyên quốc gia; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia; Đẩy mạnh nghiên cứu hệ sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái và các chỉ tiêu đánh giá định lượng; Nghiên cứu, xây dựng hướng dẫn và triển khai thí điểm bồi hoàn đa dạng sinh học.
Thực hiện Luật Đa dạng sinh học, Bộ TN&MT đã rà soát, đánh giá theo các tiêu chí và phân loại khu bảo tồn và công bố Danh mục các khu bảo tồn (Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015). Theo đó, tính đến cuối năm 2018, có 43/63 tỉnh, thành phố đã hoàn thành xây dựng Kế hoạch hành động đa dạng sinh học và 19/63 tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh. Đến tháng 5/2015, Việt Nam có 166 khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích 2.106.051 ha chiếm 6,36% diện tích lãnh thổ trong đó 31 vườn quốc gia, 64 khu dự trữ thiên nhiên, 16 khu bảo tồn loài, 55 khu bảo vệ cảnh quan.
Từ năm 2015 đến nay, Bộ TN&MT đã phối hợp với các đơn vị liên quan đề xuất nâng cấp 01 khu dự trữ thiên nhiên thành vườn quốc gia, nâng cấp 1 khu bảo tồn loài và sinh cảnh và 2 khu bảo tồn biển thành khu dự trữ thiên nhiên và thành lập mới 03 khu bảo tồn. Tính đến cuối năm 2017, cả nước có 169 khu bảo tồn với diện tích khoảng 2.108.500 ha. So với năm 2015 đã tăng thêm 3 khu bảo tồn thiên nhiên và tăng diện tích lên khoảng 2.500 ha. Tính đến 2019, cả nước có có 172 khu bảo tồn với diện tích 2.493.843,67 ha, gồm: 33 vườn quốc gia; 65 khu dự trữ thiên nhiên; 18 khu bảo tồn loài và sinh cảnh; 56 khu bảo vệ cảnh quan (tăng 06 khu bảo tồn so với năm 2015 với tổng diện tích tăng thêm là 66.693,67ha); 09 khu Ramsar với tổng diện tích 120.549 ha; 10 Vườn di sản ASEAN (tăng 04 Vườn di sản ASEAN so với năm 2018); 10/16 khu bảo tồn biển đã được thành lập với tổng diện tích các khu bảo tồn biển đạt 187.810,93 ha chiếm 0,19% diện tích vùng Việt Nam; 09 khu vực được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới với tổng diện tích là 4.253.108 ha.
Tính riêng đối với khu bảo tồn biển, trong giai đoạn từ 2010 đến nay, nhiều khu bảo tồn biển được rà soát và đánh giá, kết quả đã xây dựng và thành lập mới được thêm 4 khu bảo tồn Biển nâng tổng số khu bảo tồn biển đến năm 2018 là 10 khu bao gồm: Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc. Tổng diện tích các khu bảo tồn biển là 111.211 ha chiếm 0,11% diện tích vùng biển trên cả nước. Bên cạnh hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên trong nước còn có nhiều khu đạt các tiêu chí quốc tế bao gồm 10 khu dự trữ sinh quyển, 6 khu di sản ASEAN (AHP); 2 khu dự trữ thiên nhiên thế giới.
Về hệ sinh thái đất ngập nước, Việt Nam có khoảng 12 triệu ha đất ngập nước, phân bố ở hầu hết các vùng trong cả nước. Đa dạng sinh học của đất ngập nước Việt Nam có giá trị lớn với 1028 loài cá, 848 loài chim, 800 loài động vật không xương sống ở hệ sinh thái nước ngọt và trên 11000 loài sống ở hệ sinh thái đất ngập nước biển, ven biển. Ý thức được vai trò, giá trị các vùng đất ngập nước, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước Ramsar năm 1989. Từ đó đến nay, Việt Nam đã đề cử và được công nhận 8 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) gồm: 7 Vườn quốc gia (Xuân Thủy, Ba Bể, Bàu Sấu - Cát Tiên, Tràm Chim, Mũi Cà Mau, Côn Đảo, U Minh Thượng) và 01 khu bảo tồn thiên nhiên Láng Sen; quy hoạch được 47 khu bảo tồn đất ngập nước tại Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 8/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Về việc đẩy mạnh dịch vụ hệ sinh thái, trong những năm qua, kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đạt được nhiều thành công. Giai đoạn 2011-2017, ba loại chi trả dịch vụ môi trường rừng đã thực hiện gồm: Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; Dịch vụ bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch. Giai đoạn 2018 đã mở rộng thí điểm thực hiện đối với 2 dịch vụ môi trường rừng mới là hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng và dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản. Từ các thành công đạt được, các bộ ngành đang tiếp tục nghiên cứu phương pháp luận và thử nghiệm việc thực hiện chi trả các dịch vụ hệ sinh thái khác như hệ sinh thái biển, hệ sinh thái đất ngập nước...