Định hướng công tác quản lý TNN trong thời gian tới

Tin tức - Sự kiện 09/10/2020

Nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tài nguyên nước, tiến tới ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tình trạng gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt bảo đảm an ninh nguồn nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuât các giải pháp trong thời gian tới.

Về thể chế, chính sách pháp luật

Đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa nội dung An ninh nguồn nước vào trong Dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng để định hướng chỉ đạo, giải pháp tổng thể và nguồn lực đủ mạnh cho vấn đề An ninh nguồn nước.

Trình Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết về An ninh nguồn nước tại Kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2020) làm cơ sở cho việc thực hiện vấn đề rất quan trọng, cấp thiết này và bố trí nguồn lực từ kế hoạch đầu tư công trung hạn nhằm thực hiện ngay các mục tiêu, cơ chế để đảm bảo An ninh nguồn nước với một số nhiệm vụ cấp bách, cần thiết. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, trình Chính phủ lộ trình thực hiện.

Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên nước; hoạt động cung cấp và tiêu thụ nước sạch, các quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng nước sạch cấp cho mục đích sinh hoạt; trong thời gian tới, tiến hành rà soát, sửa đổi Luật tài nguyên nước, trong đó cần có các quy định khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển tài nguyên nước và các dịch vụ về nước (điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình điều tiết nước, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về nước) theo phương thức xã hội hóa. Đặc biệt là cần tăng cường đầu tư cho lĩnh vực tài nguyên nước.

Về công tác quy hoạch, điều tiết nước, chuyển nước lưu vực sông

Tập trung xây dựng và phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng, Cửu Long và các lưu vực sông lớn làm cơ sở cho các quy hoạch có khai thác, sử dụng nước. Đồng thời tổng kiểm kê tài nguyên nước và hiện trạng khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước trên phạm vi cả nước.

Hoàn chỉnh việc xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên nước, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; trên cơ sở đó, giám sát, chỉ đạo việc vận hành các hồ chứa lớn quan trọng tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, đặc biệt đối với các lưu vực có chuyển nước như Vu Gia-Thu Bồn, sông Ba,…Đồng thời đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra; tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước thông qua hình thức giám sát tự động, trực tuyến.

Về đầu tư và xây dựng công trình

Nghiên cứu đề xuất các phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt với quy mô phù hợp với vùng ĐBSCL nhằm tăng cường trữ nước, điều tiết nguồn nước. Về tổng thể quốc gia, cần rà soát, ban hành thể chế để bảo đảm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

Ứng dụng khoa học và công nghệ cao, tiên tiến trong dự báo, cảnh báo nguồn nước, chất lượng nước, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, sa mạc hóa, lũ, ngập lụt, úng, bồi lắng, xói lở công trình thủy lợi, bờ sông, bờ biển;công nghệ cấp, tiêu thoát nước tiên tiến, hiện đại, thông minh;quản lý, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, tái sử dụng nước.

Nghiên cứu, đánh giá điều kiện kinh tế, kỹ thuật ứng dụng công nghệ xử lý nước lợ, mặn; đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng công nghệ xử lý nước lợ, mặn tại vùng hải đảo, ĐBSCL và các vùng ven biển Việt Nam để bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất của người dân.

Về cơ cấu tổ chức và quản lý

Rà soát, kiện toàn, hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp ngành nước, bảo đảm tinh gọn đầu mối, đáp ứng yêu cầu quản lý nước toàn diện; khắc phục tình trạng chồng chéo trong thực thi nhiệm vụ.

Xây dựng, tăng cường cơ chế điều phối, giám sát trong hoạt động quản lý tài nguyên nước ở các lưu vực sông, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong giải quyết những vấn đề chung về khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước.

Rà soát, xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo nguồn nhân lực ngành nước đạt chuẩn khu vực Châu Á vào năm 2030, tiến tới đạt trình độ chung của các nước tiên tiến trên thế giới vào năm 2050 phục vụ hiệu quả cho công tác quản trị nước.

Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về các thách thức, mối đe dọa trong lĩnh vực cấp nước; các âm mưu, hoạt động phá hoại nguồn nước, an toàn hệ thống cấp nước.\

Về hợp tác quốc tế

Chủ động, tham gia, mở rộng hợp tác với các đối tác quốc tế về sử dụng nguồn nước xuyên biên giới, nghiên cứu tác động của các hoạt động phát triển thượng nguồn các lưu vực sông liên quốc gia đến Việt Nam.

Tăng cường trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm và huy động nguồn lực trong đảm bảo An ninh nguồn nước quốc gia, tăng cường kết nối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài;

Thúc đẩy xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên nước liên quốc gia trên nguyên tắc của Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy, các hiệp định thỏa thuận song phương và đa phương nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các nước thượng du và hạ du, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động của Ủy hội sông Mê Công.