Bộ Tài nguyên và Môi trường: Tăng cường điều phối phát triển vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2016 – 2020

Tin tức - Sự kiện 09/10/2020

Các hoạt động điều phối phát triển vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ TN&MT tập trung vào công tác xây dựng hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật đồng bộ; từng bước quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; công tác quản lý, bảo vệ môi trường; nâng cao chất lượng dự báo, chủ động sản xuất, ứng phó giảm thiểu tác động của thiên tai, chủ động đề xuất các các biện pháp tổng thể, dài hạn nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường đầu tư phát triển; xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin vùng.

Xây dựng hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật đồng bộ 

Đã rà soát, đánh giá thực tiễn, trình ban hành các cơ chế, chính sách tháo gỡ ngay những vướng mắc về quản lý tài nguyên phục vụ hiệu quả cho phát triển; thiết lập hành lang pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên biển, đo đạc bản đồ và khí tượng thủy văn. Chuyển đổi phương thức quản lý theo hướng chủ động phòng ngừa, tăng cường kiểm soát, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, từng bước giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Đã trình Quốc hội 02 dự án Luật; hoàn thành tổng kết, sơ kết 03 nghị quyết quan trọng của Đảng về đất đai, biển đảo và ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; trên cơ sở đó Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045; Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 36-KL/TW ngày 06/9/2018 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Kết luận số 56-KL/TW ngày 23/8/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính ban hành hơn 30 văn bản dưới Luật. Hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất đai đồng bộ ở cả 3 cấp quốc gia, tỉnh, huyện. Qua đó, tạo hệ thống chủ trương, chính sách, pháp luật đồng bộ cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

Ngoài ra, hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành theo thẩm quyền các Thông tư hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật phục vụ thống nhất chung trong cả nước về việc quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Từng bước quản lý chặt chẽ các nguồn tài nguyên; sử dụng hiệu quả trở thành thành nguồn lực quan trọng cho phát triển, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Từng bước quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát huy nguồn lực đất đai vào phát triển sản xuất kinh doanh. Cả nước đã thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất với gần 319 nghìn ha để giải quyết nhu cầu nhà ở, phát triển sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng; đưa hơn 63 nghìn ha đất chưa sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tế -xã hội. Tình trạng sử dụng lãng phí đất đai đã được khắc phục căn bản tình trạng lãng phí đất đai.

Hiệu quả sử dụng đất tăng gấp 2 lần so với đầu kỳ. Thu từ đất chiếm 12%-15% thu ngân sách nội địa hàng năm cao gấp gần 2,5 lần năm 2015. Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận đối với 97,36% diện tích cần cấp, tăng 3,3 triệu giấy so với năm 2016; tỷ lệ khiếu kiện giảm 38% so với giai đoạn 2011-2015. - Tài nguyên nước từng bước được quản lý, khai thác hiệu quả, dần nâng cao mức đảm bảo an ninh nguồn nước. Hoàn thành việc điều chỉnh, bổ sung các quy trình vận hành liên hồ chứa, tổ chức giám sát việc vận hành, điều tiết nguồn nước phục vụ đa mục tiêu, giảm thiểu thiệt hại trước tình trạng hạn hán kéo dài. Kiểm soát ô nhiễm môi trường các lưu vực sông, thực hiện các giải pháp tổng thể để xanh hoá các dòng sông. Đẩy mạnh kinh tế hoá, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả; phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đến nay đạt 9.354 tỷ đồng.

Công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản đạt được nhiều thành tựu mới, tiềm năng khoáng sản, giá trị về địa chất từng bước được chuyển hoá thành các nguồn lực. Đã hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 cho 70% diện tích phần đất liền lãnh thổ Việt Nam và ở tỷ lệ 1:500.000 đối với khoảng 40% tổng diện tích vùng biển Việt Nam. Nguồn thu ngân nhà nước từ khoáng sản bình quân mỗi năm khoảng 5 nghìn tỷ đồng. 

Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Đến nay, đã hoàn thành việc điều tra địa hình đáy biển đạt 24,5% diện tích các vùng biển ở các tỷ lệ từ 1:500.000 đến 1:50.000.000. Đã hình thành và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp gắn với hình thành chuỗi đô thị ven biển, các địa phương có biển đã trở thành khu vực phát triển năng động, thu hút nguồn lực đầu tư, một số tỉnh, thành phố đã trở thành cực tăng trưởng.

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động; chuyển từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa

Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, đặt môi trường vào vị trí trung tâm của phát triển bền vững, đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lãnh của Nhân dân, thiết lập hàng rào kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn để bảo vệ môi trường trước thách thức ngày càng lớn của sự gia tăng các nguồn thải, dân số và các vấn đề môi trương xuyên biên giới. Ban hành Bộ chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chủ động kiểm soát, làm chủ công nghệ giám sát, phòng ngừa ô nhiễm, đảm bảo các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ cao được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động an toàn, đóng góp cho tăng trưởng. Các chỉ số về môi trường có sự chuyển biến: tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý tăng trung bình 6%/năm, nhiều địa phương đã có mô hình xử lý hiệu quả như Nghệ An, Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Cần Thơ, điển hình tại Đồng Nai tỷ lệ rác thải chôn lấp còn 43%; tỷ lệ thu gom xử lý chất thải rắn công nghiệp đạt 90%; tỷ lệ tro xỉ được tái sử dụng đạt trên 50%. tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 89%; số xã đạt tiêu chí chuẩn nông thôn mới về môi trường tăng 8,3%. Thiết lập hệ thống gần 900 trạm quan trắc kết nối trực tuyến với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường; có thể theo dõi trên các thiết bị di động, được kết nối với hệ thống điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để theo dõi diễn biến môi trường phục vụ công tác điều hành. Chỉ số về môi trường nước mặt năm 2019 cho thấy chất lượng tại khu vực thượng nguồn đều duy trì khá tốt, chất lượng nước ở các sông ô nhiễm nghiêm trọng như sông Nhuệ đã được cải thiện hơn. Tạo sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động trong phòng chống rác thải nhựa.

Nâng cao chất lượng dự báo, chủ động sản xuất, ứng phó giảm thiểu tác động của thiên tai, chủ động đề xuất các các biện pháp tổng thể, dài hạn nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn đã từng bước được phát triển cả về số lượng và chất lượng theo hướng tự động hóa; từng bước hình thành hệ thống thông tin chuyên ngành hiện đại, nâng cao chất lượng dự báo hạn dài, hạn ngắn đủ độ chi tiết. Dự báo chính xác các xu thế thời tiết, các hiện tượng thời tiết cực đoan, tác động của biến đổi khí hậu và phối hợp tốt với các Bộ, ngành địa phương để chủ động điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội, cơ cấu sản xuất, mùa vụ, giảm 2/3 thiệt hại do thiên tai gây ra. Đặc biệt, nhờ dự báo sớm nên mặc dù hạn hán và xâm nhập mặn xảy ra với quy mô lớn và mức độ khốc liệt nghiêm trong nhất trong lịch sử (thời gian xâm nhập mặn kéo dài gấp từ 2-2,5 lần, phạm vi ảnh hưởng rộng hơn so với năm 2016) tuy nhiên mức độ thiệt hại đến sản xuất, dân sinh được giảm thiểu đặc biệt là sản xuất nông nghiệp so với năm 2016.

Chất lượng các bản tin dự báo không ngừng được nâng cao, đã dự báo tương đối kịp thời các cơn bão và các đợt áp thấp nhiệt đới hoạt động trên khu vực Biển Đông; cảnh báo trước 48-72 h các đợt không khí lạnh, các loại hình thiên tai có nguồn gốc từ khí tượng thủy văn khác như rét đậm, rét hại, nắng nóng, mưa, lũ lụt nghiêm trọng trên phạm vi cả nước. Dự báo xu thế thời tiết đến 10 ngày cho các khu vực, dự báo thời tiết chi tiết cho từng thành phố, huyện, thị xã trên cả nước; đã dự báo kịp thời các cơn bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động trên khu vực Biển Đông.

Nghiên cứu đề xuất các chiến lược tổng thể nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu như: cập nhật kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu và đề xuất giải pháp thích ứng; Nghị quyết số số 120/NQ-CP với tầm nhìn 100 năm và tư duy đột phá biến thách thức thành cơ hội phát triển, kết nối đồng bằng song Cửu Long với vùng Thành phố Hồ Chí Minh và tiểu vùng Mê Công; trên cơ sở đó nghiên cứu nhân rộng mô hình phát triển bền vững ở các vùng thường xuyên chịu tác động của biến đổi khí hậu.

Chủ động trong triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, các hành động thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trên phạm vi cả nước. Nghiên cứu giải pháp và triển khai chuyển đổi sản xuất quy mô lớn với mô hình kinh tế phù hợp với tự nhiên, ứng dụng công nghệ cao; giải quyết xung đột giữa các mô hình kinh tế; thực hiện các mô “Sinh kế thích ứng với BĐKH”, “Nước sạch và môi trường”, nhà ở chống lũ; nhà công sở sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả…Hoạt động hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu ngày càng được đẩy mạnh, nâng cao vị thế của quốc gia trong nỗ lực ứng phó với biến đổi toàn cầu. Thông qua Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC), các Bộ, ngành đã xây dựng được trên 300 hành động chính sách liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu. Tổ chức tốt hoạt động đàm phán để Việt Nam tham gia ký kết các điều ước quốc tế quan trọng về biến đổi khí hậu

Về đầu tư phát triển

Kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2016-2020 của Bộ TN&MT đã phục vụ đắc lực cho việc xây dựng và tạo nguồn lực phục vụ công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, cụ thể: trường để đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản; nhiều công trình đã hoàn thành, được đưa vào sử dụng; nhiều thiết bị chuyên môn với những công nghệ tiên tiến đã được ứng dụng cho công tác nghiệp vụ; năng lực của hầu hết các lĩnh vực đất đai, đo đạc và bản đồ, địa chất và khoáng sản, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và môi trường… được nâng lên rõ rệt.

Thực hiện tốt Quy hoạch mạng lưới quan trắc TN&MT quốc gia giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 90/2016/QĐ-TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020.

Cơ bản đầu tư, sắp xếp cơ sở làm việc các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ đảm bảo tiêu chuẩn, định mức và yêu cầu phát triển của Bộ (Điển hình là trụ sở cơ quan Bộ TN&MT tại số 10 phố Tôn Thất Thuyết, trụ sở Liên cơ quan Bộ TN&MT tại Thành phố Hồ Chí Minh; cơ sở làm việc của: Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Tổng cục Quản lý đất đai; Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, Cục Công nghệ Thông tin, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, và nhiều cơ sở các đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ…).

Về cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin vùng

Lần đầu tiên hoạt động đo đạc và bản đồ được quản lý thống nhất bằng Luật, thúc đẩy ứng dụng các thành quả của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; làm nền tảng để phát triển hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia. Hoàn thành đưa vào sử dụng hệ thống trạm Cors cung cấp các dịch vụ định vị vệ tinh chính xác trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu nền thông tin địa hình; hiện đại hóa mạng lưới độ cao quốc gia tại một số thành phố lớn và khu vực ven biển; hoàn chỉnh Hệ quy chiếu, hệ tọa độ quốc gia Việt Nam.

Công nghệ viễn thám hiện đại được áp dụng đang dần trở thành một công cụ quan trọng cho việc đánh giá và quản lý tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, phòng chống thiên tai và an ninh quốc phòng. Thường xuyên giám sát các khu vực nhạy cảm, thực hiện việc giám sát biến động nguồn nước, giám sát các biến động khu vực biên giới quốc gia, các đảo xa bờ. Xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia bảo đảm đồng bộ và thống nhất với cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường, tạo cơ sở cho việc công bố siêu dữ liệu viễn thám quốc gia, tạo thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng dữ liệu viễn thám phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng viễn thám phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

Ngày 15 tháng 6 năm 2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có tờ trình số 16/TTr-BTNMT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệ đề án “Hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường kết nối liên thông với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các địa phương, các Bộ, ngành” với mục tiêu Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường với mô hình, công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, góp phần phát triển.

kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, cộng đồng; phát triển Chính phủ điện tử dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, dữ liệu.

Tiếp tục hoàn thiện Đề án “Xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành về đồng bằng sông Cửu Long phục vụ phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu” với mục tiêu tạo lập hạ tầng thông tin, dữ liệu và hạ tầng tri thức về đồng bằng sông Cửu Long trên quan điểm tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực với tầm nhìn dài hạn, giải quyết đồng bộ bài toán tổng thể phục vụ quản lý, điều hành, hoạch định chính sách, hỗ trợ ra quyết định, hướng tới người dân và doanh nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đề án dự kiến được triển khai tại các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long và các Bộ, ban, ngành có liên quan được nêu tại nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ; cung cấp thông tin, dữ liệu cho các tổ chức, doanh, nghiệp, cá nhân theo quy định của pháp luật. Hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành vùng đồng bằng sông Cửu Long được kết nối đến các cơ sở dữ liệu của thành phố TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh giáp ranh vùng Đông Nam Bộ; cơ sở dữ liệu của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và Ủy hội sông Mê Công quốc tế.